8Mô hình sinh#
Các chương trước dùng mô hình để biểu diễn và phân loại, tức học . Mô hình sinh học phân phối của chính dữ liệu, , để có thể lấy ra mẫu mới: một ảnh chưa từng có, một câu chưa ai viết. Bài toán này khó hơn phân loại nhiều, và công cụ quen thuộc nhất để học một phân phối, ước lượng hợp lý cực đại, không áp dụng trực tiếp được. Hiểu vì sao sẽ giải thích được thiết kế của cả ba họ mô hình ở các chương sau.
8.1Bài toán sinh#
Một ảnh màu có giá trị, mỗi giá trị nhận một trong 256 mức. Số ảnh có thể có là , một số lớn không tưởng tượng được. Trong không gian đó, những ảnh trông giống ảnh thật chiếm một phần cực nhỏ: chọn ngẫu nhiên một điểm thì gần như chắc chắn được nhiễu. Người ta thường mô tả tập các ảnh thật như một đa tạp dữ liệu (data manifold) có số chiều thấp hơn nhiều so với không gian chứa nó. Mô hình sinh phải học hình dạng của tập đó đủ tốt để lấy ra những điểm mới nằm trên nó.
8.2Hằng số chuẩn hoá#
Công cụ chuẩn để học một phân phối là ước lượng hợp lý cực đại (Chương 10 của Nền tảng): chọn tham số làm dữ liệu quan sát được có xác suất cao nhất. Nếu mô hình hoá mật độ bằng một hàm bất kỳ qua
thì log hợp lý chứa . là tích phân trên toàn bộ không gian 196 608 chiều: không tính được, khó xấp xỉ, và phụ thuộc nên không bỏ qua được khi lấy gradient.
Các họ mô hình sinh khác nhau ở cách tránh hằng số này. Mô hình tự hồi quy, như các mô hình ngôn ngữ, viết . Mỗi phân phối có điều kiện chỉ cần chuẩn hoá trên một tập nhỏ, ví dụ từ vựng, bằng softmax, nên hợp lý tính được chính xác; đổi lại, mô hình phải sinh từng phần tử một. VAE tối đa một chặn dưới của log hợp lý, và chặn dưới đó tính được (Chương 9). GAN bỏ hẳn hợp lý, thay bằng một trò chơi giữa hai mạng (Chương 10). Mô hình khuếch tán chia bài toán thành một chuỗi bài toán khử nhiễu, mỗi bài là một bài hồi quy (Chương 11).
8.3So sánh các họ mô hình sinh#
VAE, GAN và mô hình khuếch tán có chung một cách sinh mẫu: lấy nhiễu Gauss rồi biến đổi nó thành dữ liệu (Hình 11). Chúng khác nhau ở cách huấn luyện, và khác biệt đó kéo theo các tính chất trong bảng dưới.

| VAE | GAN | Khuếch tán | |
|---|---|---|---|
| Huấn luyện bằng | tối đa chặn dưới ELBO | trò chơi giữa bộ sinh và bộ phân biệt | hồi quy dự đoán nhiễu |
| Độ ổn định khi huấn luyện | cao | thấp | cao |
| Độ sắc nét của mẫu | thường mờ | sắc nét | sắc nét |
| Phủ các chế độ của phân phối | tốt | dễ bỏ sót | tốt |
| Tốc độ lấy mẫu | một lượt chạy | một lượt chạy | nhiều bước |
| Có không gian ẩn dùng được | có | có một phần | không trực tiếp |
| Đánh giá được bằng hợp lý | có (chặn dưới) | không | có (chặn dưới) |
Bảng giải thích diễn biến của lĩnh vực. GAN chiếm ưu thế trong sinh ảnh khoảng 2015 tới 2020 vì cho mẫu sắc nét nhất. Mô hình khuếch tán thay thế GAN từ khoảng 2021 vì đạt độ sắc nét tương đương mà huấn luyện ổn định và phủ phân phối tốt hơn. Điểm yếu của nó là lấy mẫu chậm, nhưng lấy mẫu chậm cải thiện được bằng các kỹ thuật ở Mục 11.5, còn huấn luyện bất ổn thì khó khắc phục hơn nhiều.
8.4Tóm tắt#
Ảnh thật chỉ chiếm một phần cực nhỏ của không gian mọi ảnh có thể, và mô hình sinh phải học hình dạng của phần đó. Ước lượng hợp lý cực đại vấp phải hằng số chuẩn hoá , một tích phân trên toàn bộ không gian dữ liệu. Mô hình tự hồi quy tránh nó bằng cách chuẩn hoá từng bước trên một tập nhỏ, VAE tối đa một chặn dưới tính được, GAN bỏ hẳn hợp lý, còn mô hình khuếch tán chia bài toán thành nhiều bài hồi quy khử nhiễu. Mô hình khuếch tán thay thế GAN trong sinh ảnh vì đạt độ sắc nét tương đương mà huấn luyện ổn định hơn.
Ta đi qua ba họ theo thứ tự ra đời, bắt đầu từ VAE. Điểm xuất phát của VAE là bộ tự mã hoá, một mô hình nén dữ liệu tốt nhưng không sinh được mẫu mới.
Tự kiểm tra
2 câu. Chọn đáp án để xem ngay lời giải thích.
1Vì sao không áp dụng trực tiếp ước lượng hợp lý cực đại cho một mô hình mật độ tổng quát trên ảnh?
Vì sao: Các họ mô hình sinh khác nhau ở cách tránh : mô hình tự hồi quy chuẩn hoá từng bước trên tập nhỏ, VAE dùng chặn dưới, GAN dùng trò chơi, mô hình khuếch tán dùng chuỗi bài hồi quy (Mục 8.2).2Vì sao mô hình khuếch tán thay thế GAN trong phần lớn ứng dụng sinh ảnh?
Vì sao: Nhược điểm của mô hình khuếch tán là lấy mẫu nhiều bước, và nhược điểm đó cải thiện được bằng DDIM, chưng cất và khuếch tán trong không gian ẩn.
Đã trả lời 0/2