16. Bài tập#
Mười bài tập có lời giải chi tiết và ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm theo từng chương.
Levy và Goldberg (2014) chứng minh skip-gram với lấy mẫu âm ngầm phân rã ma trận PMI dịch đi . (a) Viết phần hàm mục tiêu kỳ vọng phụ thuộc vào của một cặp , rồi cho đạo hàm theo bằng 0. (b) Suy ra . (c) Tăng từ 1 lên 15 thì ma trận đích thay đổi thế nào? Nếu sau đó cắt các giá trị âm về 0, số phần tử bằng 0 thay đổi ra sao? (d) Vì sao ở hạng đầy đủ gradient descent hội tụ về đúng ma trận đó, còn ở hạng thấp thì không? Số đo ở Mục 2.6 cho thấy điều gì?
Xem lời giải chi tiết
(a) Hàm mục tiêu và đạo hàm. Với cặp , đặt . Phần hàm mục tiêu kỳ vọng phụ thuộc gồm phần cặp thật, có trọng số là số lần đồng hiện, và phần cặp âm, có trọng số là số lần lấy mẫu âm sinh ra cặp đó:
Dùng và :
(b) Nghiệm. Chuyển vế được . Vì nên vế trái bằng . Thay :
(c) Tăng từ 1 lên 15. Ma trận đích dịch xuống . Các cặp không liên quan vốn có PMI khoảng 0 trở thành âm, và sau khi cắt phần âm thì bằng 0: ma trận đích thưa hơn nhiều. Trên kho ngữ liệu thật, điều này lọc bỏ các cặp đồng hiện yếu vốn ước lượng rất nhiễu. Trên kho ngữ liệu 20 từ của Mục 2.2, PMI lớn nhất chỉ là 1,19, nên với mọi phần tử đều âm và bị cắt về 0, không còn gì để phân rã, nên thí nghiệm dùng .
(d) Hạng đầy đủ và hạng thấp. Kết quả ở (b) là điều kiện cho từng phần tử của ma trận . Nếu embedding có đủ chiều, có thể là bất kỳ ma trận nào, nên tối ưu đạt được điều kiện ở mọi phần tử: Mục 2.6 đo được tương quan 0,9995 và sai lệch trung bình 0,0106.
Nếu embedding chỉ có 8 chiều, có hạng không quá 8, và nói chung không thể thoả điều kiện ở mọi phần tử; tối ưu phải chọn một xấp xỉ. Mục 2.6 đo được tương quan chỉ 0,3727. Xấp xỉ đó phụ thuộc vào trọng số của hàm mục tiêu: skip-gram đặt trọng số theo tần suất của các cặp, khác với SVD đặt trọng số như nhau. Hệ quả đo được: embedding skip-gram hạng 8 chỉ giải đúng 20,4% phép loại suy, trong khi SVD trên PPMI cùng hạng giải đúng 100%. Giới hạn số chiều là điều kiện để có embedding gọn và tổng quát hoá được, nhưng không tự bảo đảm giữ đúng cấu trúc cần thiết; cấu trúc nào được giữ lại tuỳ thuộc vào hàm mục tiêu và cách tối ưu.
Một hệ thống tìm kiếm ngữ nghĩa lấy trung bình trạng thái ẩn của một mô hình ngôn ngữ làm embedding câu, rồi xếp hạng bằng cosine. Mọi cặp câu đều có cosine từ 0,82 tới 0,94, kể cả những cặp rõ ràng không liên quan. (a) Chẩn đoán vấn đề và giải thích cơ chế. (b) Nêu cách sửa rẻ nhất, và dùng số đo ở Mục 3.2 để nói nó hiệu quả tới đâu. (c) Vì sao không nên sửa bằng cách nâng ngưỡng cosine lên 0,93? (d) Nêu cách sửa triệt để và những gì nó đòi hỏi thêm.
Xem lời giải chi tiết
(a) Chẩn đoán: tính bất đẳng hướng. Cosine đo góc, và góc chỉ phản ánh độ giống nhau khi đám mây điểm phân bố quanh gốc toạ độ. Trạng thái ẩn của Transformer thường tập trung trong một vùng hẹp lệch khỏi gốc, nên mọi vector có chung một thành phần lớn theo cùng một hướng. Tích vô hướng giữa hai vector bất kỳ bị thành phần chung đó chi phối, và cosine phản ánh hướng chung của cả tập thay vì quan hệ giữa hai câu. Đây không phải lỗi cài đặt mà là đặc điểm của biểu diễn từ một mô hình không được huấn luyện để các câu cùng nghĩa gần nhau.
(b) Cách sửa rẻ nhất: trừ vector trung bình. Tính trên một mẫu đại diện, vài nghìn câu là đủ, rồi so sánh thay cho . Ở Mục 3.2:
| Mức lệch tâm | Cosine trung bình trước | Sau khi trừ trung bình |
|---|---|---|
| Nhẹ | 0,3899 | |
| Mạnh | 0,8724 |
Chi phí chỉ là một phép trừ vector cho mỗi truy vấn.
(c) Vì sao không nâng ngưỡng lên 0,93.
- Cách này xử lý triệu chứng, không xử lý nguyên nhân: phần thông tin hữu ích vẫn bị thành phần chung che lấp, và thứ hạng giữa các kết quả vẫn bị nó chi phối.
- Ngưỡng không ổn định: vector trung bình thay đổi theo miền dữ liệu, theo mô hình, cả theo độ dài câu. Ngưỡng chỉnh cho dữ liệu hôm nay sẽ sai khi dữ liệu thay đổi.
- Dải giá trị quá hẹp: mọi điểm nằm trong , tức toàn bộ thông tin nằm trong một dải rộng 0,12, nên một chênh lệch nhỏ do nhiễu cũng đảo được thứ hạng. Sau khi trừ trung bình, dải này giãn ra gần hết khoảng .
(d) Cách sửa triệt để: huấn luyện với mục tiêu tương phản. Huấn luyện embedding sao cho cặp câu liên quan gần nhau và cặp không liên quan xa nhau, với hàm mất mát InfoNCE và các câu khác trong lô làm mẫu âm (Mục 4.2). Đổi lại, cách này cần dữ liệu cặp (câu hỏi và câu trả lời, câu và bản dịch, hai cách diễn đạt của cùng một ý), và cần lô lớn để có nhiều mẫu âm. Thứ tự nên thử: trừ trung bình trước, làm trắng nếu chưa đủ, và chỉ huấn luyện tương phản khi hai cách kia không đạt yêu cầu; hoặc dùng ngay một mô hình embedding đã được huấn luyện tương phản sẵn.
Một mô hình có , 32 lớp, tổng 6 476 005 376 tham số không tính embedding. Gắn LoRA hạng vào và của mọi lớp. (a) Viết công thức số tham số huấn luyện theo , rồi tính với . (b) Với , trạng thái Adam ở FP32 chiếm bao nhiêu bộ nhớ? So với tinh chỉnh toàn phần. (c) Tỉ số thay đổi thế nào khi tăng từ 768 lên 8 192 với cố định? Điều đó cho biết gì về lợi ích của LoRA với mô hình lớn? (d) Một công ty phục vụ 50 khách hàng, mỗi khách hàng một phiên bản tinh chỉnh riêng của một mô hình 13 GB. Tính dung lượng lưu trữ khi tinh chỉnh toàn phần và khi dùng LoRA , giả sử mỗi adapter 16 MB.
Xem lời giải chi tiết
(a) Số tham số. Mỗi lớp có hai ma trận được gắn LoRA ( và ), mỗi ma trận có tham số:
| Tham số huấn luyện | Tỉ lệ so với 6 476 005 376 | |
|---|---|---|
| 4 | 2 097 152 | 0,0324% |
| 8 | 4 194 304 | 0,0648% |
| 16 | 8 388 608 | 0,1295% |
| 64 | 33 554 432 | 0,5181% |
(b) Trạng thái Adam. Adam giữ hai trạng thái cho mỗi tham số, mỗi trạng thái 4 byte ở FP32:
Với tinh chỉnh toàn phần: byte, tức 48,2 GiB. Tỉ lệ khoảng 1 540 lần. Cộng thêm trọng số (24,1 GiB) và gradient (24,1 GiB) ở FP32, tinh chỉnh toàn phần cần 96,4 GiB, vượt một GPU 80 GB.
(c) Tỉ số theo .
| với | |
|---|---|
| 768 | 2,083% |
| 1 280 | 1,250% |
| 4 096 | 0,391% |
| 8 192 | 0,195% |
Tỉ số tỉ lệ nghịch với : số tham số của một lớp tăng theo , còn của LoRA chỉ tăng theo . Mô hình càng lớn, phần điều chỉnh hạng thấp càng nhỏ so với bản thân mô hình, nên LoRA càng tiết kiệm.
(d) Lưu trữ cho 50 khách hàng. Tinh chỉnh toàn phần: GB GB. LoRA: một bản gốc dùng chung cộng 50 adapter, GB, nhỏ hơn khoảng 47 lần. Lợi ích khi phục vụ còn lớn hơn: giữ một bản mô hình gốc trên GPU và chọn adapter theo từng yêu cầu, trong khi với tinh chỉnh toàn phần, mỗi khách hàng cần một bản mô hình riêng trên GPU hoặc phải nạp lại 13 GB mỗi lần đổi khách hàng.
Quá trình thuận của mô hình khuếch tán: . (a) Chứng minh bằng quy nạp rằng với . (b) Vì sao dạng đóng này cần thiết để huấn luyện khả thi? (c) Với lịch tuyến tính từ tới qua 1 000 bước, ở bước cuối bằng . Còn lại bao nhiêu phần trăm biên độ tín hiệu, và vì sao con số này quan trọng? (d) Giải thích vì sao ở nhỏ mô hình học chi tiết, còn ở lớn mô hình học bố cục.
Xem lời giải chi tiết
(a) Quy nạp. Với : , và , , nên mệnh đề đúng.
Giả sử với . Theo định nghĩa một bước, với độc lập với . Thay vào:
Hệ số của là . Hai số hạng nhiễu là biến Gauss độc lập có trung bình 0, nên tổng của chúng là biến Gauss có phương sai bằng tổng các phương sai:
Vậy với .
(b) Vì sao cần dạng đóng. Huấn luyện cần lấy với ngẫu nhiên trong , hàng triệu lần. Nếu phải mô phỏng từng bước, trung bình mỗi mẫu huấn luyện tốn khoảng 500 bước, tức chậm hơn khoảng 500 lần. Với dạng đóng, rút một và tính trong một phép tính với mọi . Tính chất này có được vì mỗi bước là một phép biến đổi Gauss tuyến tính; với phép biến đổi phi tuyến thì không gộp được như vậy.
(c) Tín hiệu còn lại. Biên độ tín hiệu là : , tức khoảng 0,63%. Con số này quan trọng vì khi sinh mẫu, quá trình bắt đầu từ , và điều đó chỉ đúng nếu gần với mọi . Nếu lịch nhiễu dừng sớm, chẳng hạn , thì còn giữ khoảng 32% biên độ của , và bắt đầu sinh từ nhiễu thuần tuý là sai phân phối.
(d) Chi tiết và bố cục. Ở nhỏ, SNR rất cao: ảnh gần như nguyên vẹn, chỉ có một lớp nhiễu mỏng. Để dự đoán lớp nhiễu đó, mô hình phải phân biệt nhiễu với kết cấu thật ở mức điểm ảnh; bố cục thì vẫn còn nguyên nên không cần dự đoán. Ở lớn, SNR rất thấp: gần như chỉ còn nhiễu, các chi tiết đã mất, chỉ các thành phần biên độ lớn như bố cục, vùng sáng tối và màu tổng thể còn để lại dấu vết. Khi sinh mẫu đi ngược từ về 0, mô hình vì vậy quyết định bố cục trước rồi mới thêm chi tiết; trình tự này là hệ quả của lịch nhiễu, không được lập trình riêng.
Hai hàm mất mát cho bộ sinh của GAN: cực tiểu và cực đại , với . (a) Tính đạo hàm của mỗi hàm theo . (b) Lúc bắt đầu huấn luyện, với mẫu giả. Gradient của mỗi hàm lớn cỡ nào? (c) Dùng kết quả đo ở Mục 10.2 để nêu hậu quả. (d) Hai hàm có cùng điểm cố định. Từ đó rút ra nhận định tổng quát nào về việc chọn hàm mất mát? Nêu một ví dụ khác trong các giáo trình của lộ trình cho thấy cùng hiện tượng.
Xem lời giải chi tiết
(a) Hai đạo hàm. Với và :
(b) Lúc bắt đầu. Bộ phân biệt dễ dàng nhận ra mẫu giả nên . Dạng gốc cho gradient cỡ ; dạng không bão hoà cho .
(c) Hậu quả đo được.
| Hàm mất mát của bộ sinh | Số cụm được phủ (4 lần khởi tạo) | Tỉ lệ điểm nằm trong cụm |
|---|---|---|
| Dạng gốc | 0, 0, 0, 0 | 0,0% |
| Dạng không bão hoà | 8, 8, 8, 8 | 15,3% |
Dạng gốc không học được gì ở cả bốn lần. Cơ chế là một vòng luẩn quẩn: bộ sinh kém, bộ phân biệt tự tin, gradient của bộ sinh gần 0, bộ sinh không cải thiện. Vòng này khép lại ngay từ bước đầu, vì lúc đầu bộ sinh luôn kém. Dạng không bão hoà phá vòng này vì gradient lớn nhất đúng khi bộ sinh kém nhất.
(d) Nhận định tổng quát. Hai hàm mất mát có cùng điểm tối ưu vẫn có thể cho quá trình huấn luyện rất khác nhau, vì thuật toán không nhảy thẳng tới điểm tối ưu mà đi từng bước theo gradient; hình dạng của gradient dọc đường đi mới quyết định việc học.
Ví dụ khác: Chương 6 của Nền tảng so sánh hàm mất mát của perceptron, hinge và logistic. Cả ba đều là chặn trên lồi của mất mát 0–1, nhưng mất mát perceptron bằng 0 ngay khi một điểm vừa được phân loại đúng, nên thuật toán ngừng điều chỉnh điểm đó dù nó nằm sát biên. Trên dữ liệu không tách được, Mục 6.2 của Nền tảng đo được 17 977 lần phân loại sai sau 2 000 lượt quét mà không hội tụ.
Bài toán RLHF trên câu trả lời rời rạc. (a) Lập hàm Lagrange với ràng buộc , cho đạo hàm theo bằng 0 và suy ra nghiệm dạng đóng. (b) Khi và , chính sách tối ưu là gì? Giải thích bằng lời. (c) Nếu với một câu trả lời , thì bằng bao nhiêu dù lớn tới đâu? Điều đó có ý nghĩa gì cho an toàn, và nó không bảo đảm được điều gì? (d) Dùng số liệu ở Mục 14.4 để giải thích vì sao nên xem là một vị trí trên đường đánh đổi thay vì một siêu tham số có giá trị đúng duy nhất.
Xem lời giải chi tiết
(a) Nghiệm dạng đóng. Với cố định, bài toán là
Hàm Lagrange với nhân tử :
Dùng , cho đạo hàm theo bằng 0:
Thừa số cuối là hằng số, xác định bởi ràng buộc tổng bằng 1, nên
(b) Hai giới hạn. Khi , bị chi phối hoàn toàn bởi câu trả lời có phần thưởng lớn nhất, nên chính sách dồn toàn bộ xác suất vào câu trả lời đó, bỏ qua (miễn là của nó dương). Khi , và : mô hình giữ nguyên, không học gì từ phần thưởng. Mục 14.4 cho thấy hai xu hướng này: ở , KL bằng 4,74 và phần thưởng kỳ vọng 2,44; ở , KL chỉ 0,017 và phần thưởng kỳ vọng .
(c) Khi . , bất kể lớn tới đâu. Về mặt an toàn, điều này có nghĩa là những gì mô hình tham chiếu coi là không thể thì vẫn không thể sau khi tối ưu, dù mô hình thưởng có sai lệch thế nào.
Nhưng bảo đảm này hầu như không áp dụng được trong thực tế: một mô hình ngôn ngữ dùng softmax gán xác suất dương, dù rất nhỏ, cho mọi chuỗi token, nên với mọi . Ràng buộc KL chỉ làm những đầu ra đó ít xảy ra hơn, không loại bỏ chúng. Bài 9(c) bàn tiếp hệ quả này.
(d) là một vị trí trên đường đánh đổi.
| KL | Phần thưởng kỳ vọng | |
|---|---|---|
| 0,05 | 4,741 | 2,438 |
| 0,20 | 4,658 | 2,424 |
| 1,00 | 0,417 | 0,303 |
| 5,00 | 0,017 |
KL và phần thưởng tăng giảm cùng nhau: muốn phần thưởng cao hơn thì phải chấp nhận đi xa hơn. Không có giá trị nào làm cả hai cùng tốt, nên câu hỏi " bằng bao nhiêu là đúng" không có câu trả lời kỹ thuật chung. Câu hỏi thực tế là chấp nhận lệch khỏi mô hình tham chiếu bao nhiêu để đổi lấy bao nhiêu phần thưởng, và câu trả lời phụ thuộc mức tin cậy vào mô hình thưởng. Cách đọc giống đường ROC (Mục 8.3 của Nền tảng): không có điểm tốt nhất chung, chỉ có một đường đánh đổi.
Suy ra hàm mất mát DPO. (a) Từ nghiệm dạng đóng ở Bài 6, viết theo và . (b) Thay vào hợp lý Bradley–Terry và chỉ rõ chỗ triệt tiêu. (c) Vì sao phép triệt tiêu đòi hỏi hai câu trả lời phải cho cùng một câu hỏi ? (d) Nêu hai tình huống RLHF có thể tốt hơn DPO, dù hai phương pháp có cùng nghiệm tối ưu.
Xem lời giải chi tiết
(a) Đảo ngược nghiệm dạng đóng. Lấy logarit hai vế của :
Với và cho trước, mỗi chính sách ứng với một hàm thưởng (sai khác một hàm chỉ phụ thuộc ), nên tham số hoá chính sách cũng là tham số hoá hàm thưởng.
(b) Thay vào Bradley–Terry. Mô hình Bradley–Terry dùng hiệu hai phần thưởng:
Hai số hạng ở cuối mỗi ngoặc bằng nhau và triệt tiêu. Kết quả là hàm mất mát DPO:
trong đó mọi đại lượng đều tính được bằng một lượt xuôi qua và trên hai câu trả lời.
(c) Vì sao cần cùng một câu hỏi. phụ thuộc nhưng không phụ thuộc . Với hai câu trả lời cho cùng câu hỏi , hai số hạng bằng nhau. Nếu hai câu trả lời thuộc hai câu hỏi khác nhau , hiệu khác 0 và không tính được. Vì vậy dữ liệu của DPO phải là các cặp so sánh cho cùng một câu hỏi; KTO (Mục 15.5) được đề xuất để bỏ yêu cầu này.
(d) Hai tình huống RLHF có thể tốt hơn.
- Cần học trên các câu trả lời mà chính sách hiện tại sinh ra. RLHF lấy mẫu từ chính sách đang học rồi chấm bằng mô hình thưởng, nên luôn học trên đúng phân phối mô hình đang sinh ra. DPO học trên một tập so sánh cố định; khi chính sách đi xa khỏi phân phối đã sinh ra tập đó, mô hình được dạy về những câu trả lời nó không còn sinh ra nữa, và tín hiệu học yếu đi.
- Cần một mô hình thưởng dùng lại được. Mô hình thưởng có thể chấm dữ liệu mới mà không cần người, so sánh các phiên bản mô hình trên cùng một thang, phát hiện suy giảm chất lượng khi vận hành, và lọc dữ liệu huấn luyện. DPO không tạo ra thành phần này.
Với mỗi tình huống, nêu vấn đề và hai việc nên làm: (a) Huấn luyện VAE, sai số tái dựng cao còn KL gần như bằng 0 ở mọi chiều ẩn. (b) Tinh chỉnh toàn phần một mô hình trên 80 mẫu có nhãn cho độ chính xác kiểm tra thấp hơn khi chỉ học lớp cuối trên đặc trưng đóng băng. (c) Đóng băng đặc trưng và tăng dữ liệu từ 500 lên 5 000 mẫu, độ chính xác chỉ tăng từ 0,62 lên 0,64. (d) Huấn luyện GAN 20 000 vòng, mất mát của bộ sinh tăng đều. Có nên dừng không?
Xem lời giải chi tiết
(a) VAE: tái dựng kém, KL gần 0 ở mọi chiều. Đây là sụp hậu nghiệm: hậu nghiệm xấp xỉ trùng tiên nghiệm ở mọi chiều, không mang thông tin về , và bộ giải mã chỉ dự đoán giá trị trung bình. Mục 9.3 đo được hiện tượng này ở : mọi chiều có KL bằng 0 và sai số tái dựng tăng lên 15,28. Hai việc nên làm:
- Giảm , ví dụ về 1 hoặc nhỏ hơn; Mục 9.3 cho thấy số chiều mang thông tin phụ thuộc trực tiếp vào .
- Tăng dần từ 0 (KL annealing) trong những bước đầu, để bộ giải mã học cách dùng trước khi số hạng KL kéo hậu nghiệm về tiên nghiệm (Bowman và cộng sự, 2016). Nếu bộ giải mã quá mạnh, như một mô hình tự hồi quy, có thể cần giảm dung lượng của nó.
(b) Tinh chỉnh trên 80 mẫu kém hơn đóng băng. Với 80 mẫu, tinh chỉnh toàn phần có quá nhiều tham số so với dữ liệu, nên dễ overfitting; Mục 6.3 cho thấy dưới 150 mẫu, tinh chỉnh toàn phần không vượt được các cách khác. Hai việc nên làm:
- Dùng LoRA hạng nhỏ thay cho tinh chỉnh toàn phần: điều chỉnh sâu hơn một lớp tuyến tính mà chỉ thêm rất ít tham số.
- Giảm tốc độ học, dừng sớm theo tập xác thực, và mở đóng băng dần từ các lớp trên.
Trước đó nên kiểm tra xem chênh lệch có đáng tin không: với 80 mẫu, tập xác thực rất nhỏ, và chênh lệch quan sát được có thể chỉ là dao động giữa các lần chạy, như hai hàng đầu của bảng ở Mục 6.3.
(c) Đóng băng, dữ liệu tăng mười lần, độ chính xác chỉ tăng 0,02. Đây là giới hạn của đặc trưng đóng băng, giống kết quả đo ở Mục 6.3 (0,622; 0,638; 0,645): khi đặc trưng cố định, mô hình chỉ còn là hồi quy softmax trên các đặc trưng đó. Theo Mục 2.4 của Học sâu, đây là tình trạng độ chệch cao: sai số huấn luyện và sai số xác thực gần nhau và cùng đã nằm ngang. Hai việc nên làm:
- Cho phép cập nhật các lớp phía dưới, ít nhất vài lớp trên cùng; ở Mục 6.3, với 8 000 mẫu, tinh chỉnh toàn phần đạt 0,818 so với 0,645.
- Dùng LoRA nếu không đủ bộ nhớ để tinh chỉnh toàn phần.
Không nên thu thập thêm dữ liệu cho cấu hình hiện tại, vì đường cong đã cho thấy dữ liệu không giúp được.
(d) GAN: mất mát của bộ sinh tăng đều sau 20 000 vòng. Không đủ thông tin để kết luận nên dừng. Mất mát của bộ sinh tăng có thể vì bộ sinh kém đi, cũng có thể vì bộ phân biệt vừa tốt lên (Mục 10.4). Hai việc nên làm:
- Xem trực tiếp mẫu sinh ra, định kỳ theo số vòng; đây là cách đánh giá thô nhưng đáng tin.
- Dùng một chỉ số bên ngoài như FID, hoặc với dữ liệu mô phỏng thì đếm số chế độ được phủ và tỉ lệ điểm nằm trong các cụm như Mục 10.2.
Một dấu hiệu thật sự đáng lo là mất mát của bộ phân biệt về gần 0 và đứng yên: bộ phân biệt thắng hoàn toàn, gradient của bộ sinh triệt tiêu như cơ chế ở Mục 10.2, và quá trình huấn luyện đã hỏng.
Một công ty bảo hiểm muốn xây trợ lý hỗ trợ khách hàng từ một mô hình ngôn ngữ mở trọng số 7 tỉ tham số. (a) Công ty có 3 000 đoạn hội thoại mẫu do nhân viên giỏi viết. Nên tinh chỉnh toàn phần, dùng LoRA, hay chỉ viết prompt? Trả lời dựa trên Mục 6.3 và Mục 7.3. (b) Sau ba tháng, công ty thu được 40 000 cặp so sánh do khách hàng đánh giá ("câu trả lời nào hữu ích hơn"). Thiết kế bước tiếp theo, chọn DPO hoặc RLHF và giải thích. (c) Bộ phận pháp chế yêu cầu trợ lý không bao giờ hứa chi trả bảo hiểm. Vì sao ràng buộc KL ở Mục 14.4 không đủ bảo đảm điều đó, và cần thêm gì? (d) Thiết kế cách giám sát trợ lý khi vận hành, dựa trên Chương 10 của MLOps.
Xem lời giải chi tiết
(a) 3 000 đoạn hội thoại mẫu. Trước hết nên thử chỉ viết prompt với vài ví dụ trong ngữ cảnh và đo trên một bộ đánh giá; nếu đã đủ tốt thì không cần huấn luyện. Nếu chưa đủ, chọn LoRA hạng 8 hoặc 16:
- Với 3 000 mẫu, dữ liệu nằm trong vùng mà ở Mục 6.3 tinh chỉnh vượt rõ đóng băng, nên chỉ học lớp cuối là bỏ phí dữ liệu.
- Tinh chỉnh toàn phần mô hình 7B với Adam ở FP32 cần khoảng 96 GiB (Mục 7.1), vượt một GPU 80 GB; LoRA chỉ cần 32 MiB cho trạng thái bộ tối ưu.
- Nhiệm vụ, học văn phong và quy trình trả lời của bộ phận hỗ trợ, là loại điều chỉnh mà giả định hạng thấp của LoRA phù hợp: nhấn mạnh lại những gì mô hình đã biết thay vì học kiến thức mới.
(b) 40 000 cặp so sánh. Chọn DPO:
- DPO cần 2 mô hình trong bộ nhớ thay vì 4, hàm mất mát là cross-entropy nhị phân, ít siêu tham số và ổn định hơn PPO.
- DPO có cùng nghiệm tối ưu với RLHF (Mục 15.3), nên về lý thuyết không mất gì.
- 40 000 cặp là một tập so sánh cố định, đúng dạng dữ liệu DPO được thiết kế cho.
Cách làm: lấy mô hình sau bước (a) làm , chạy DPO với trong khoảng 0,1 tới 0,5, theo dõi KL giữa và và chất lượng trên một bộ đánh giá giữ riêng. Nên cân nhắc RLHF về sau nếu cần học liên tục trên các câu trả lời mô hình đang sinh ra, hoặc cần một mô hình thưởng cho việc đánh giá và giám sát.
(c) Ràng buộc KL không bảo đảm "không bao giờ hứa chi trả".
- KL là ràng buộc trung bình, không phải ràng buộc cho từng đầu ra. KL nhỏ nghĩa là hai phân phối gần nhau nói chung, vẫn cho phép một số đầu ra cụ thể tăng xác suất đáng kể.
- Mô hình ngôn ngữ không gán xác suất bằng 0 cho chuỗi nào. Bảo đảm ở Bài 6(c) chỉ áp dụng khi đúng bằng 0, điều không xảy ra với softmax.
- Mô hình thưởng không biết ràng buộc pháp lý nếu dữ liệu so sánh không thể hiện nó. Nếu người đánh giá chỉ chọn câu trả lời "hữu ích hơn", một câu hứa chi trả có thể được chấm cao hơn vì làm khách hàng hài lòng.
Cần thêm một lớp kiểm tra nằm ngoài mô hình: một bộ lọc chạy trên đầu ra trước khi gửi cho khách hàng, gồm quy tắc và một bộ phân loại riêng (Mục 11.5 của Ứng dụng LLM). Bộ lọc không phải một phần của mô hình được tối ưu, nên không bị quá trình tối ưu lách qua. Huấn luyện làm hành vi này hiếm đi; chỉ bộ lọc đầu ra mới chặn được nó, và nên nói rõ điều đó với bộ phận pháp chế.
(d) Giám sát khi vận hành. Bốn lớp, xếp theo độ trễ phát hiện từ nhanh tới chậm:
| Lớp | Đo gì | Lý do |
|---|---|---|
| Bộ lọc đầu ra | tỉ lệ đầu ra bị chặn | tăng đột ngột cho thấy mô hình hoặc loại câu hỏi đã thay đổi |
| Phân phối đầu vào | dịch chuyển của câu hỏi người dùng (Chương 9 của MLOps) | câu hỏi thay đổi thì chất lượng có thể thay đổi |
| Chất lượng theo mẫu | chấm một mẫu nhỏ bằng người hoặc bằng mô hình giám khảo | tín hiệu trực tiếp nhất về chất lượng |
| Phản hồi người dùng | tỉ lệ chuyển sang nhân viên thật, đánh giá sau hội thoại | đến muộn nhất nhưng đo đúng điều quan trọng |
Thêm hai điểm riêng cho mô hình ngôn ngữ (Chương 13 của MLOps): kiểm tra định kỳ trên một bộ câu hỏi cố định để phát hiện thay đổi hành vi khi đổi phiên bản mô hình, và cẩn thận khi dùng dữ liệu do chính mô hình sinh ra để huấn luyện vòng sau, vì phân phối có thể hẹp dần, như hiện tượng vòng phản hồi đo được ở Mục 12.3 của MLOps.
Trong phần (G) của code/bieudien/experiments.py, GAN với hàm mất mát không bão hoà phủ đủ 8 cụm ở mọi lần khởi tạo, tức không tái hiện được sụp chế độ.
(a) Nêu ba thay đổi có thể làm sụp chế độ xuất hiện, và với mỗi thay đổi, nêu cơ chế dự kiến.
(b) Cài một trong ba thay đổi, chạy lại và báo cáo kết quả, kể cả khi kết quả khác với dự đoán.
(c) Đề xuất một chỉ số đo mức phủ tốt hơn việc đếm số cụm có điểm rơi vào. Gợi ý: xét phân phối số điểm rơi vào mỗi cụm.
(d) Vì sao phủ đủ các chế độ chưa đủ để kết luận mô hình học đúng phân phối? Dùng con số 15,3% ở Mục 10.3.
Xem lời giải chi tiết
(a) Ba thay đổi có thể làm sụp chế độ xuất hiện.
- Tăng số chiều của dữ liệu, ví dụ đặt 8 cụm trong không gian 50 chiều. Cơ chế dự kiến: ở số chiều cao, các cụm cách xa nhau hơn so với độ rộng của chúng, và bộ sinh, một ánh xạ liên tục từ , khó phủ nhiều vùng rời rạc cùng lúc.
- Làm bộ phân biệt mạnh hơn nhiều so với bộ sinh, ví dụ thêm lớp và cập nhật bộ phân biệt 5 lần cho mỗi lần cập nhật bộ sinh. Cơ chế dự kiến: bộ phân biệt tìm ra ranh giới rất sắc, và bộ sinh dồn vào một vùng hẹp mà nó tạm thời đánh lừa được.
- Giảm số chiều của xuống 1. Cơ chế dự kiến: ảnh của bộ sinh khi đó là một đường cong liên tục trong mặt phẳng; để đi qua 8 cụm rời rạc, đường cong phải đi qua cả vùng trống giữa chúng, nên bộ sinh có xu hướng chỉ phủ vài cụm gần nhau. Đây là một ràng buộc hình học, không phụ thuộc vào quá trình tối ưu, nên là thay đổi có khả năng tạo ra hiện tượng cao nhất.
(b) Chạy lại và báo cáo. Phần này để người học tự làm. Yêu cầu quan trọng là ghi lại kết quả đúng như nó xảy ra, kể cả khi khác với dự đoán. Thí nghiệm gốc ở Mục 10.3 chính là một ví dụ: dự định ban đầu là minh hoạ sụp chế độ, nhưng sau nhiều cấu hình vẫn không tái hiện được, và nội dung được viết theo số liệu thay vì theo dự định. Một thí nghiệm bác bỏ giả thuyết ban đầu có giá trị hơn một thí nghiệm được điều chỉnh cho tới khi ra kết quả mong muốn.
(c) Chỉ số phủ tốt hơn. Cách đếm hiện tại, số cụm có ít nhất một điểm rơi vào, là chỉ số nhị phân và rất dễ dãi: một cụm nhận 1 điểm được tính ngang một cụm nhận 1 000 điểm. Chỉ số tốt hơn: gọi là tỉ lệ điểm sinh ra rơi vào cụm (trong số các điểm rơi vào một cụm nào đó), so với tỉ lệ thật , rồi đo
Số chế độ hiệu dụng bằng 8 khi các cụm nhận số điểm bằng nhau và bằng 1 khi mọi điểm dồn vào một cụm, cho một giá trị liên tục trong . Đây là cùng đại lượng dùng để đo số lựa chọn hiệu dụng của các chiến lược giải mã ở Mục 11.3 của Học sâu.
(d) Phủ đủ chế độ chưa đủ. Chỉ 15,3% số điểm sinh ra nằm trong phạm vi một cụm: bộ sinh đặt khối lượng xác suất vào đúng vùng của 8 cụm, nhưng phần lớn điểm nằm rải rác giữa các cụm, nơi dữ liệu thật gần như không có. Phủ đủ các chế độ là điều kiện cần, không phải điều kiện đủ, để học đúng phân phối; cần thêm các chỉ số so sánh mật độ, như tỉ lệ điểm trong cụm hay phân kỳ giữa phân phối sinh ra và phân phối thật.
Trắc nghiệm theo chương#
49 câu bám sát nội dung và số liệu của từng chương. Đáp án được xáo lại mỗi lần tải trang.
Chương 2 — Word2Vec
6 câu
1Skip-gram với lấy mẫu âm thực chất phân rã ma trận nào?
Vì sao: Kết quả của Levy và Goldberg (2014): cho đạo hàm của hàm mục tiêu kỳ vọng bằng 0 được . Ở Mục 2.6, với hạng đầy đủ, tích vô hướng học được có tương quan 0,9995 với PMI.2Vì sao dùng PMI thay cho số lần đồng hiện thô?
Vì sao: Một từ như "của" đồng hiện với hầu hết các từ vì nó phổ biến, không vì nó liên quan. Mẫu số của PMI là xác suất đồng hiện nếu hai từ độc lập, nên tỉ số đo phần vượt mức ngẫu nhiên.3Lấy mẫu âm giải quyết vấn đề gì?
Vì sao: Với từ vựng 2 triệu từ và vector 300 chiều, softmax đầy đủ tốn khoảng 1,2 tỉ phép tính mỗi cặp, lấy mẫu âm với tốn 3 600. Chi phí của lấy mẫu âm không phụ thuộc kích thước từ vựng.4Trong thí nghiệm ở Mục 2.6, embedding skip-gram hạng 8 giải đúng bao nhiêu phép loại suy, so với SVD trên PPMI cùng số chiều?
Vì sao: Hai phương pháp nhắm tới cùng một ma trận đích nhưng xấp xỉ khác nhau khi bị giới hạn số chiều: SVD cho xấp xỉ tốt nhất với trọng số như nhau cho mọi phần tử, skip-gram cho xấp xỉ có trọng số theo tần suất và dùng hai bộ vector. Trên dữ liệu thật, khác biệt giữa các phương pháp phụ thuộc nhiều vào siêu tham số (Levy, Goldberg và Dagan, 2015).5Vì sao độ chính xác loại suy của SVD giảm khi giữ 12 hoặc 16 chiều, rồi lại đạt 100% ở 20 chiều?
Vì sao: Tám trị riêng dương ứng với cấu trúc hai trục của dữ liệu (); mười hai trị riêng âm sinh ra vì đường chéo của ma trận bằng 0. Giữ đủ 20 chiều thì ma trận được tái tạo chính xác (Mục 2.4).6Số mũ 3/4 trong phân phối lấy mẫu âm có cơ sở gì?
Vì sao: Số mũ 3/4 cho kết quả tốt hơn số mũ 1 (phân phối unigram) và số mũ 0 (phân phối đều) trong thí nghiệm của Mikolov và cộng sự (2013); không có lý thuyết nào dẫn tới con số này.
Đã trả lời 0/6
Chương 3 — Hình học của không gian embedding
3 câu
1Vì sao hai embedding không liên quan vẫn có thể có cosine rất cao?
Vì sao: Ở Mục 3.2, 900 vector ngẫu nhiên độc lập cộng một vector hằng có cosine trung bình 0,8724, dù không có quan hệ gì với nhau.2Cách rẻ nhất để giảm tác động của tính bất đẳng hướng là gì?
Vì sao: Trừ trung bình đưa cosine trung bình về ở cả ba mức lệch tâm trong thí nghiệm. Nâng ngưỡng chỉ xử lý triệu chứng, và thứ hạng giữa các kết quả vẫn bị thành phần chung chi phối.3Chiều thứ 37 của một embedding mang nghĩa gì?
Vì sao: Nếu thì với mọi ma trận trực giao , nên hệ trục toạ độ là tuỳ ý. Thứ có nghĩa là quan hệ giữa các vector (Mục 3.4).
Đã trả lời 0/3
Chương 4 — Embedding theo ngữ cảnh và tìm kiếm vector
3 câu
1Vì sao trung bình các trạng thái ẩn của BERT chưa phải embedding câu tốt?
Vì sao: Reimers và Gurevych (2019) cho thấy trung bình các vector đầu ra của BERT kém cả trung bình vector GloVe trên các bộ đánh giá độ tương đồng câu. Cần huấn luyện thêm với mục tiêu tương phản (Mục 4.2).2Trong học tương phản với hàm mất mát InfoNCE, mẫu âm thường lấy từ đâu?
Vì sao: Mỗi câu còn lại trong lô là một "lớp sai" trong hàm cross-entropy, nên lô càng lớn thì càng nhiều mẫu âm. Đây là cùng ý tưởng với lấy mẫu âm của word2vec.3Một kho 10 triệu vector 768 chiều lưu ở FP32 chiếm bao nhiêu bộ nhớ?
Vì sao: byte GB. Con số này quyết định nhiều lựa chọn kiến trúc: giảm độ chính xác số, nén bằng product quantization, hay chia kho cho nhiều máy (Mục 4.3).
Đã trả lời 0/3
Chương 5 — Tiền huấn luyện
2 câu
1Vì sao dự đoán token tiếp theo dạy được nhiều kỹ năng như vậy?
Vì sao: Các kỹ năng là hệ quả của việc giảm mất mát trên một kho văn bản đủ lớn và đa dạng, không được dạy riêng (Mục 5.2).2Trường hợp nào tiền huấn luyện giúp được ít nhất?
Vì sao: Khi miền quá xa, các đặc trưng đã học không dùng lại được. Ngược lại, ít nhãn chính là tình huống tiền huấn luyện có ích nhất (Mục 5.4).
Đã trả lời 0/2
Chương 6 — Đóng băng và tinh chỉnh
3 câu
1Trong thí nghiệm ở Mục 6.3, từ khoảng bao nhiêu mẫu có nhãn thì tinh chỉnh toàn phần vượt rõ các cách khác?
Vì sao: Với 20 và 50 mẫu, ba cách không phân biệt được. Từ 150 mẫu, tinh chỉnh toàn phần vượt lên và khoảng cách tăng dần, tới 0,17 so với đóng băng ở 8 000 mẫu.2Điều gì xảy ra với cách đóng băng khi dữ liệu tăng từ 500 lên 8 000 mẫu?
Vì sao: Khi đặc trưng bị cố định, mô hình chỉ còn là hồi quy softmax trên các đặc trưng đó. Thêm dữ liệu không vượt được giới hạn của đặc trưng; đây là tình trạng độ chệch cao.3Vì sao thí nghiệm ở Mục 6.2 tự cài mạng bằng NumPy thay cho
MLPClassifiercủa scikit-learn?Vì sao: Tên cấu hình phải khớp với việc mã thực sự làm; nếu không, so sánh giữa hai cột trở nên vô nghĩa.
Đã trả lời 0/3
Chương 7 — LoRA và tinh chỉnh tiết kiệm tham số
4 câu
1LoRA tiết kiệm điều gì?
Vì sao: Khi suy luận, được gộp vào nên tốc độ bằng mô hình gốc. Với Llama 2 7B, trạng thái Adam giảm từ 48,2 GiB xuống 32 MiB với .2LoRA dựa trên giả định nào?
Vì sao: Mô hình gốc đã đúng gần hết; phần cần điều chỉnh nằm trong một không gian con ít chiều. Giả định này yếu đi khi nhiệm vụ đòi học kiến thức thật sự mới.3Vì sao LoRA khởi tạo ?
Vì sao: Nếu khởi tạo cả và ngẫu nhiên, ngay từ bước đầu mô hình đã bị cộng một nhiễu ngẫu nhiên vào trọng số.4Với một ma trận , tỉ lệ số tham số của LoRA hạng so với tinh chỉnh toàn phần là bao nhiêu?
Vì sao: LoRA có tham số so với . Tỉ lệ giảm khi tăng: 2,08% với GPT-2 small, 0,39% với một lớp của Llama 2 7B khi .
Đã trả lời 0/4
Chương 8 — Mô hình sinh
2 câu
1Vì sao không áp dụng trực tiếp ước lượng hợp lý cực đại cho một mô hình mật độ tổng quát trên ảnh?
Vì sao: Các họ mô hình sinh khác nhau ở cách tránh : mô hình tự hồi quy chuẩn hoá từng bước trên tập nhỏ, VAE dùng chặn dưới, GAN dùng trò chơi, mô hình khuếch tán dùng chuỗi bài hồi quy (Mục 8.2).2Vì sao mô hình khuếch tán thay thế GAN trong phần lớn ứng dụng sinh ảnh?
Vì sao: Nhược điểm của mô hình khuếch tán là lấy mẫu nhiều bước, và nhược điểm đó cải thiện được bằng DDIM, chưng cất và khuếch tán trong không gian ẩn.
Đã trả lời 0/2
Chương 9 — Bộ tự mã hoá biến phân
4 câu
1Trong thí nghiệm ở Mục 9.3, hệ số của VAE quyết định điều gì?
Vì sao: Dữ liệu sinh từ đúng 2 yếu tố, và với VAE giữ đúng 2 chiều mang thông tin; mỗi chiều phải "trả" một chi phí KL, và chỉ những chiều giảm sai số tái dựng đủ nhiều mới được giữ.2Sụp hậu nghiệm là gì?
Vì sao: Ở , mọi chiều có KL bằng 0 và sai số tái dựng tăng lên 15,28, gấp khoảng 125 lần so với . Hiện tượng này cũng gặp khi bộ giải mã quá mạnh.3Vì sao mẫu của VAE thường mờ?
Vì sao: Trung bình của nhiều ảnh sắc nét lệch nhau vài điểm ảnh là một ảnh nhoè ở các đường viền. Độ mờ là hệ quả của lựa chọn hàm mất mát.4Mẹo tái tham số hoá dùng để làm gì?
Vì sao: Đây là kỹ thuật cài đặt để huấn luyện VAE bằng gradient descent, không phải ý tưởng chính của VAE.
Đã trả lời 0/4
Chương 10 — Mạng đối sinh
4 câu
1Đạo hàm của theo là gì, và hệ quả với dạng gốc của hàm mất mát cho bộ sinh?
Vì sao: Ở Mục 10.2, dạng gốc phủ 0 trong 8 cụm ở cả bốn lần khởi tạo. Bộ sinh càng kém càng nhận ít tín hiệu để sửa.2Dạng không bão hoà của hàm mất mát cho bộ sinh khác gì?
Vì sao: Hai dạng có cùng điểm cố định nhưng gradient khác hẳn; với dạng không bão hoà, cả bốn lần khởi tạo đều phủ đủ 8 cụm.3Thí nghiệm GAN ở Mục 10.3 cho thấy gì về sụp chế độ?
Vì sao: Phủ đủ các chế độ chưa có nghĩa là học đúng phân phối: phần lớn điểm sinh ra nằm rải rác giữa các cụm. Sụp chế độ là hiện tượng có thật, nhưng một ví dụ hai chiều đơn giản không đủ để nó xuất hiện.4Vì sao đường cong mất mát của GAN khó dùng để theo dõi chất lượng?
Vì sao: Đây là một trong ba nguyên nhân cấu trúc khiến GAN khó huấn luyện, cùng với việc không có bảo đảm hội tụ tới điểm yên ngựa và không có đánh giá dựa trên hợp lý.
Đã trả lời 0/4
Chương 11 — Mô hình khuếch tán
4 câu
1Dạng đóng của quá trình thuận cho biết gì, và vì sao nó quan trọng?
Vì sao: Không có dạng đóng thì mỗi mẫu huấn luyện phải mô phỏng bước. Ở Mục 11.2, dạng đóng khớp với mô phỏng 200 000 quỹ đạo.2Ở các bước lớn (SNR rất thấp), việc khử nhiễu liên quan tới điều gì?
Vì sao: Ở lớn gần như chỉ còn nhiễu, nên việc khử nhiễu quyết định các thành phần biên độ lớn. Khi sinh mẫu đi từ về 0, mô hình quyết định bố cục trước rồi mới thêm chi tiết.3Huấn luyện mô hình khuếch tán thực chất là bài toán gì?
Vì sao: Mất mát giảm nghĩa là mô hình tốt lên, không có điểm yên ngựa hay hai mạng cạnh tranh. Nhờ vậy mô hình khuếch tán dễ huấn luyện hơn GAN nhiều.4Vì sao mô hình khuếch tán thường dự đoán nhiễu thay vì dự đoán ?
Vì sao: Biết thì suy ra được từ dạng đóng và ngược lại. Ho, Jain và Abbeel (2020) thấy dạng đơn giản hoá với dự đoán nhiễu cho kết quả tốt nhất.
Đã trả lời 0/4
Chương 12 — Nhập môn học tăng cường
3 câu
1Khác biệt có hệ quả lớn nhất giữa học tăng cường và học có giám sát là gì?
Vì sao: Chính sách kém chỉ thu thập được dữ liệu kém, rồi học từ dữ liệu đó lại ra chính sách kém. Ngoài ra, phần thưởng không cho biết hành động đúng là gì và có thể đến rất muộn.2Thí nghiệm ở Mục 12.4 cho thấy điều gì mà câu "cần để khám phá" bỏ sót?
Vì sao: Khi mọi phần thưởng của bước đi đều âm mà khởi tạo bằng 0, hành động chưa thử luôn có vẻ tốt hơn hành động đã thử, nên chính sách tham lam tự khám phá.3Khởi tạo bi quan gây ra điều gì trong thí nghiệm?
Vì sao: Hành động đã thử có tăng lên gần giá trị thật, còn các hành động khác vẫn ở , nên chính sách tham lam gần như không thử hành động mới. Chỉ mới học được chính sách tối ưu.
Đã trả lời 0/3
Chương 13 — Gradient chính sách
3 câu
1Vì sao trừ một đường nền không làm lệch ước lượng gradient chính sách?
Vì sao: Tổng xác suất luôn bằng 1, nên số hạng thêm vào có kỳ vọng 0 với mọi hằng số . Phép trừ chỉ làm giảm phương sai.2Giảm độ lệch chuẩn của ước lượng gradient 2,3 lần tương đương cần ít mẫu hơn bao nhiêu lần?
Vì sao: Số mẫu cần để đạt một độ chính xác tỉ lệ với phương sai, tức bình phương độ lệch chuẩn: .3Vì sao phần thưởng luôn dương làm ước lượng REINFORCE nhiễu?
Vì sao: Trừ đường nền gần phần thưởng trung bình làm hành động kém hơn trung bình bị đẩy xuống thay vì được đẩy lên ít hơn.
Đã trả lời 0/3
Chương 14 — Học tăng cường từ phản hồi của con người
4 câu
1Nghiệm của bài toán là gì?
Vì sao: Suy ra bằng nhân tử Lagrange với ràng buộc tổng xác suất bằng 1. Ở Mục 14.4, công thức khớp với nghiệm tìm bằng BFGS tới cỡ .2Nếu thì bằng bao nhiêu?
Vì sao: Nhân với 0 vẫn bằng 0. Điều này giữ mô hình trong phạm vi hành vi của mô hình tham chiếu, nhưng không ngăn được những hành vi mà mô hình tham chiếu đã có xác suất dương.3Vì sao học từ so sánh có thể vượt chất lượng của học bắt chước?
Vì sao: Học bắt chước chỉ đưa mô hình tới chất lượng của câu trả lời mẫu; so sánh cho tín hiệu về chất lượng cao hơn mức người gán nhãn tự viết ra.4Nên hiểu hệ số trong RLHF thế nào?
Vì sao: nhỏ cho phần thưởng theo mô hình thưởng cao hơn nhưng đi xa hơn, tăng nguy cơ lách phần thưởng.
Đã trả lời 0/4
Chương 15 — Tối ưu trực tiếp theo sở thích (DPO)
4 câu
1DPO dựa trên quan sát nào?
Vì sao: Từ đó thay trực tiếp biểu thức của vào mô hình Bradley–Terry và tối ưu theo chính sách.2Vì sao triệt tiêu trong hàm mất mát DPO?
Vì sao: Phép triệt tiêu đòi hỏi hai câu trả lời phải cho cùng một câu hỏi ; đó là cấu trúc của dữ liệu so sánh.3DPO có phải một phép xấp xỉ của RLHF không?
Vì sao: Khác biệt thực tế nằm ở dữ liệu dùng khi huấn luyện: DPO học trên tập so sánh cố định, RLHF lấy mẫu từ chính sách hiện tại.4RLHF với PPO có lợi thế nào so với DPO?
Vì sao: DPO đơn giản và ổn định hơn nên là mặc định hợp lý; RLHF có lợi khi chính sách đi xa khỏi phân phối của tập so sánh, hoặc khi cần mô hình thưởng cho đánh giá và giám sát.
Đã trả lời 0/4