Biểu diễn & Căn chỉnhgiáo trình tự học
Chương 1610 bài · 49 câu trắc nghiệm

16. Bài tập#

Mười bài tập có lời giải chi tiết và ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm theo từng chương.

Bài 1
suy luậnTrung bìnhChương 2
#

Levy và Goldberg (2014) chứng minh skip-gram với lấy mẫu âm ngầm phân rã ma trận PMI dịch đi log⁡k\log k. (a) Viết phần hàm mục tiêu kỳ vọng phụ thuộc vào s=⟨wi,cj⟩s = \langle w_i, c_j\rangle của một cặp (i,j)(i, j), rồi cho đạo hàm theo ss bằng 0. (b) Suy ra ⟨wi,cj⟩=PMI(i,j)−log⁡k\langle w_i, c_j\rangle = \mathrm{PMI}(i, j) - \log k. (c) Tăng kk từ 1 lên 15 thì ma trận đích thay đổi thế nào? Nếu sau đó cắt các giá trị âm về 0, số phần tử bằng 0 thay đổi ra sao? (d) Vì sao ở hạng đầy đủ gradient descent hội tụ về đúng ma trận đó, còn ở hạng thấp thì không? Số đo ở Mục 2.6 cho thấy điều gì?

Xem lời giải chi tiết

(a) Hàm mục tiêu và đạo hàm. Với cặp (i,j)(i, j), đặt s=⟨wi,cj⟩s = \langle w_i, c_j\rangle. Phần hàm mục tiêu kỳ vọng phụ thuộc ss gồm phần cặp thật, có trọng số là số lần đồng hiện, và phần cặp âm, có trọng số là số lần lấy mẫu âm sinh ra cặp đó:

ℓ(s)=#(i,j) log⁡σ(s)+k #(i) Pn(j) log⁡σ(−s).\ell(s) = \#(i,j)\,\log\sigma(s) + k\,\#(i)\,P_n(j)\,\log\sigma(-s).

Dùng ddslog⁡σ(s)=1−σ(s)\frac{d}{ds}\log\sigma(s) = 1 - \sigma(s) và ddslog⁡σ(−s)=−σ(s)\frac{d}{ds}\log\sigma(-s) = -\sigma(s):

ℓ′(s)=#(i,j) (1−σ(s))−k #(i) Pn(j) σ(s)=0.\ell'(s) = \#(i,j)\,\big(1 - \sigma(s)\big) - k\,\#(i)\,P_n(j)\,\sigma(s) = 0.

(b) Nghiệm. Chuyển vế được σ(s)1−σ(s)=#(i,j)k #(i) Pn(j)\frac{\sigma(s)}{1 - \sigma(s)} = \frac{\#(i,j)}{k\,\#(i)\,P_n(j)}. Vì σ(s)=es1+es\sigma(s) = \frac{e^s}{1 + e^s} nên vế trái bằng ese^s. Thay Pn(j)=#(j)/NP_n(j) = \#(j)/N:

es=#(i,j) Nk #(i) #(j)⟹  s=log⁡#(i,j) N#(i) #(j)−log⁡k=PMI(i,j)−log⁡k.\begin{gathered} e^{s} = \frac{\#(i,j)\,N}{k\,\#(i)\,\#(j)} \\ \Longrightarrow\; s = \log\frac{\#(i,j)\,N}{\#(i)\,\#(j)} - \log k = \mathrm{PMI}(i,j) - \log k. \end{gathered}

(c) Tăng kk từ 1 lên 15. Ma trận đích dịch xuống log⁡15≈2,71\log 15 \approx 2{,}71. Các cặp không liên quan vốn có PMI khoảng 0 trở thành âm, và sau khi cắt phần âm thì bằng 0: ma trận đích thưa hơn nhiều. Trên kho ngữ liệu thật, điều này lọc bỏ các cặp đồng hiện yếu vốn ước lượng rất nhiễu. Trên kho ngữ liệu 20 từ của Mục 2.2, PMI lớn nhất chỉ là 1,19, nên với k=15k = 15 mọi phần tử đều âm và bị cắt về 0, không còn gì để phân rã, nên thí nghiệm dùng k=1k = 1.

(d) Hạng đầy đủ và hạng thấp. Kết quả ở (b) là điều kiện cho từng phần tử của ma trận WC⊤WC^\top. Nếu embedding có đủ V=20V = 20 chiều, WC⊤WC^\top có thể là bất kỳ ma trận 20×2020 \times 20 nào, nên tối ưu đạt được điều kiện ở mọi phần tử: Mục 2.6 đo được tương quan 0,9995 và sai lệch trung bình 0,0106.

Nếu embedding chỉ có 8 chiều, WC⊤WC^\top có hạng không quá 8, và nói chung không thể thoả điều kiện ở mọi phần tử; tối ưu phải chọn một xấp xỉ. Mục 2.6 đo được tương quan chỉ 0,3727. Xấp xỉ đó phụ thuộc vào trọng số của hàm mục tiêu: skip-gram đặt trọng số theo tần suất của các cặp, khác với SVD đặt trọng số như nhau. Hệ quả đo được: embedding skip-gram hạng 8 chỉ giải đúng 20,4% phép loại suy, trong khi SVD trên PPMI cùng hạng giải đúng 100%. Giới hạn số chiều là điều kiện để có embedding gọn và tổng quát hoá được, nhưng không tự bảo đảm giữ đúng cấu trúc cần thiết; cấu trúc nào được giữ lại tuỳ thuộc vào hàm mục tiêu và cách tối ưu.

Bài 2
chẩn đoánCơ bảnChương 3
#

Một hệ thống tìm kiếm ngữ nghĩa lấy trung bình trạng thái ẩn của một mô hình ngôn ngữ làm embedding câu, rồi xếp hạng bằng cosine. Mọi cặp câu đều có cosine từ 0,82 tới 0,94, kể cả những cặp rõ ràng không liên quan. (a) Chẩn đoán vấn đề và giải thích cơ chế. (b) Nêu cách sửa rẻ nhất, và dùng số đo ở Mục 3.2 để nói nó hiệu quả tới đâu. (c) Vì sao không nên sửa bằng cách nâng ngưỡng cosine lên 0,93? (d) Nêu cách sửa triệt để và những gì nó đòi hỏi thêm.

Xem lời giải chi tiết

(a) Chẩn đoán: tính bất đẳng hướng. Cosine đo góc, và góc chỉ phản ánh độ giống nhau khi đám mây điểm phân bố quanh gốc toạ độ. Trạng thái ẩn của Transformer thường tập trung trong một vùng hẹp lệch khỏi gốc, nên mọi vector có chung một thành phần lớn theo cùng một hướng. Tích vô hướng giữa hai vector bất kỳ bị thành phần chung đó chi phối, và cosine phản ánh hướng chung của cả tập thay vì quan hệ giữa hai câu. Đây không phải lỗi cài đặt mà là đặc điểm của biểu diễn từ một mô hình không được huấn luyện để các câu cùng nghĩa gần nhau.

(b) Cách sửa rẻ nhất: trừ vector trung bình. Tính vˉ\bar v trên một mẫu đại diện, vài nghìn câu là đủ, rồi so sánh u−vˉu - \bar v thay cho uu. Ở Mục 3.2:

Mức lệch tâm Cosine trung bình trước Sau khi trừ trung bình
Nhẹ 0,3899 −0,0011-0{,}0011
Mạnh 0,8724 −0,0011-0{,}0011

Chi phí chỉ là một phép trừ vector cho mỗi truy vấn.

(c) Vì sao không nâng ngưỡng lên 0,93.

  1. Cách này xử lý triệu chứng, không xử lý nguyên nhân: phần thông tin hữu ích vẫn bị thành phần chung che lấp, và thứ hạng giữa các kết quả vẫn bị nó chi phối.
  2. Ngưỡng không ổn định: vector trung bình thay đổi theo miền dữ liệu, theo mô hình, cả theo độ dài câu. Ngưỡng chỉnh cho dữ liệu hôm nay sẽ sai khi dữ liệu thay đổi.
  3. Dải giá trị quá hẹp: mọi điểm nằm trong [0,82; 0,94][0{,}82;\ 0{,}94], tức toàn bộ thông tin nằm trong một dải rộng 0,12, nên một chênh lệch nhỏ do nhiễu cũng đảo được thứ hạng. Sau khi trừ trung bình, dải này giãn ra gần hết khoảng [−1,1][-1, 1].

(d) Cách sửa triệt để: huấn luyện với mục tiêu tương phản. Huấn luyện embedding sao cho cặp câu liên quan gần nhau và cặp không liên quan xa nhau, với hàm mất mát InfoNCE và các câu khác trong lô làm mẫu âm (Mục 4.2). Đổi lại, cách này cần dữ liệu cặp (câu hỏi và câu trả lời, câu và bản dịch, hai cách diễn đạt của cùng một ý), và cần lô lớn để có nhiều mẫu âm. Thứ tự nên thử: trừ trung bình trước, làm trắng nếu chưa đủ, và chỉ huấn luyện tương phản khi hai cách kia không đạt yêu cầu; hoặc dùng ngay một mô hình embedding đã được huấn luyện tương phản sẵn.

Bài 3
tính tayCơ bảnChương 7
#

Một mô hình có d=4 096d = 4\,096, 32 lớp, tổng 6 476 005 376 tham số không tính embedding. Gắn LoRA hạng rr vào WQW_Q và WVW_V của mọi lớp. (a) Viết công thức số tham số huấn luyện theo rr, rồi tính với r=4,8,16,64r = 4, 8, 16, 64. (b) Với r=8r = 8, trạng thái Adam ở FP32 chiếm bao nhiêu bộ nhớ? So với tinh chỉnh toàn phần. (c) Tỉ số 2r/d2r/d thay đổi thế nào khi dd tăng từ 768 lên 8 192 với rr cố định? Điều đó cho biết gì về lợi ích của LoRA với mô hình lớn? (d) Một công ty phục vụ 50 khách hàng, mỗi khách hàng một phiên bản tinh chỉnh riêng của một mô hình 13 GB. Tính dung lượng lưu trữ khi tinh chỉnh toàn phần và khi dùng LoRA r=8r = 8, giả sử mỗi adapter 16 MB.

Xem lời giải chi tiết

(a) Số tham số. Mỗi lớp có hai ma trận được gắn LoRA (WQW_Q và WVW_V), mỗi ma trận có 2dr2dr tham số:

NLoRA=L×2×2dr=4Ldr=4×32×4 096×r=524 288 r.\begin{aligned} N_{\text{LoRA}} &= L \times 2 \times 2dr = 4Ldr \\ &= 4 \times 32 \times 4\,096 \times r = 524\,288\,r. \end{aligned}

rr Tham số huấn luyện Tỉ lệ so với 6 476 005 376
4 2 097 152 0,0324%
8 4 194 304 0,0648%
16 8 388 608 0,1295%
64 33 554 432 0,5181%

(b) Trạng thái Adam. Adam giữ hai trạng thái cho mỗi tham số, mỗi trạng thái 4 byte ở FP32:

4 194 304×2×4=33 554 432 byte=32 MiB.4\,194\,304 \times 2 \times 4 = 33\,554\,432 \text{ byte} = 32 \text{ MiB}.

Với tinh chỉnh toàn phần: 6 476 005 376×2×4=51 808 043 0086\,476\,005\,376 \times 2 \times 4 = 51\,808\,043\,008 byte, tức 48,2 GiB. Tỉ lệ khoảng 1 540 lần. Cộng thêm trọng số (24,1 GiB) và gradient (24,1 GiB) ở FP32, tinh chỉnh toàn phần cần 96,4 GiB, vượt một GPU 80 GB.

(c) Tỉ số 2r/d2r/d theo dd.

dd 2r/d2r/d với r=8r = 8
768 2,083%
1 280 1,250%
4 096 0,391%
8 192 0,195%

Tỉ số tỉ lệ nghịch với dd: số tham số của một lớp tăng theo d2d^2, còn của LoRA chỉ tăng theo dd. Mô hình càng lớn, phần điều chỉnh hạng thấp càng nhỏ so với bản thân mô hình, nên LoRA càng tiết kiệm.

(d) Lưu trữ cho 50 khách hàng. Tinh chỉnh toàn phần: 50×1350 \times 13 GB =650= 650 GB. LoRA: một bản gốc dùng chung cộng 50 adapter, 13+50×0,016=13,813 + 50 \times 0{,}016 = 13{,}8 GB, nhỏ hơn khoảng 47 lần. Lợi ích khi phục vụ còn lớn hơn: giữ một bản mô hình gốc trên GPU và chọn adapter theo từng yêu cầu, trong khi với tinh chỉnh toàn phần, mỗi khách hàng cần một bản mô hình riêng trên GPU hoặc phải nạp lại 13 GB mỗi lần đổi khách hàng.

Bài 4
suy luậnTrung bìnhChương 11
#

Quá trình thuận của mô hình khuếch tán: q(xt∣xt−1)=N(1−βt xt−1,βtI)q(x_t \mid x_{t-1}) = \mathcal{N}(\sqrt{1 - \beta_t}\,x_{t-1}, \beta_t I). (a) Chứng minh bằng quy nạp rằng q(xt∣x0)=N(αˉt x0,(1−αˉt)I)q(x_t \mid x_0) = \mathcal{N}(\sqrt{\bar\alpha_t}\,x_0, (1 - \bar\alpha_t)I) với αˉt=∏s≤t(1−βs)\bar\alpha_t = \prod_{s \le t}(1 - \beta_s). (b) Vì sao dạng đóng này cần thiết để huấn luyện khả thi? (c) Với lịch tuyến tính β\beta từ 10−410^{-4} tới 0,020{,}02 qua 1 000 bước, αˉ\bar\alpha ở bước cuối bằng 4,0×10−54{,}0 \times 10^{-5}. Còn lại bao nhiêu phần trăm biên độ tín hiệu, và vì sao con số này quan trọng? (d) Giải thích vì sao ở tt nhỏ mô hình học chi tiết, còn ở tt lớn mô hình học bố cục.

Xem lời giải chi tiết

(a) Quy nạp. Với t=1t = 1: q(x1∣x0)=N(α1 x0,β1I)q(x_1 \mid x_0) = \mathcal{N}(\sqrt{\alpha_1}\,x_0, \beta_1 I), và αˉ1=α1\bar\alpha_1 = \alpha_1, 1−αˉ1=β11 - \bar\alpha_1 = \beta_1, nên mệnh đề đúng.

Giả sử xt−1=αˉt−1 x0+1−αˉt−1 ε1x_{t-1} = \sqrt{\bar\alpha_{t-1}}\,x_0 + \sqrt{1 - \bar\alpha_{t-1}}\,\varepsilon_1 với ε1∼N(0,I)\varepsilon_1 \sim \mathcal{N}(0, I). Theo định nghĩa một bước, xt=αt xt−1+βt ε2x_t = \sqrt{\alpha_t}\,x_{t-1} + \sqrt{\beta_t}\,\varepsilon_2 với ε2∼N(0,I)\varepsilon_2 \sim \mathcal{N}(0, I) độc lập với ε1\varepsilon_1. Thay vào:

xt=αtαˉt−1 x0+αt(1−αˉt−1) ε1+βt ε2.x_t = \sqrt{\alpha_t\bar\alpha_{t-1}}\,x_0 + \sqrt{\alpha_t(1 - \bar\alpha_{t-1})}\,\varepsilon_1 + \sqrt{\beta_t}\,\varepsilon_2.

Hệ số của x0x_0 là αˉt\sqrt{\bar\alpha_t}. Hai số hạng nhiễu là biến Gauss độc lập có trung bình 0, nên tổng của chúng là biến Gauss có phương sai bằng tổng các phương sai:

αt(1−αˉt−1)+βt=αt−αˉt+1−αt=1−αˉt.\alpha_t(1 - \bar\alpha_{t-1}) + \beta_t = \alpha_t - \bar\alpha_t + 1 - \alpha_t = 1 - \bar\alpha_t.

Vậy xt=αˉt x0+1−αˉt εx_t = \sqrt{\bar\alpha_t}\,x_0 + \sqrt{1 - \bar\alpha_t}\,\varepsilon với ε∼N(0,I)\varepsilon \sim \mathcal{N}(0, I).

(b) Vì sao cần dạng đóng. Huấn luyện cần lấy xtx_t với tt ngẫu nhiên trong {1,…,1 000}\{1, \dots, 1\,000\}, hàng triệu lần. Nếu phải mô phỏng từng bước, trung bình mỗi mẫu huấn luyện tốn khoảng 500 bước, tức chậm hơn khoảng 500 lần. Với dạng đóng, rút một ε\varepsilon và tính xtx_t trong một phép tính với mọi tt. Tính chất này có được vì mỗi bước là một phép biến đổi Gauss tuyến tính; với phép biến đổi phi tuyến thì không gộp được như vậy.

(c) Tín hiệu còn lại. Biên độ tín hiệu là αˉ\sqrt{\bar\alpha}: 4,0×10−5≈6,3×10−3\sqrt{4{,}0 \times 10^{-5}} \approx 6{,}3 \times 10^{-3}, tức khoảng 0,63%. Con số này quan trọng vì khi sinh mẫu, quá trình bắt đầu từ N(0,I)\mathcal{N}(0, I), và điều đó chỉ đúng nếu q(xT∣x0)q(x_T \mid x_0) gần N(0,I)\mathcal{N}(0, I) với mọi x0x_0. Nếu lịch nhiễu dừng sớm, chẳng hạn αˉT=0,1\bar\alpha_T = 0{,}1, thì xTx_T còn giữ khoảng 32% biên độ của x0x_0, và bắt đầu sinh từ nhiễu thuần tuý là sai phân phối.

(d) Chi tiết và bố cục. Ở tt nhỏ, SNR rất cao: ảnh gần như nguyên vẹn, chỉ có một lớp nhiễu mỏng. Để dự đoán lớp nhiễu đó, mô hình phải phân biệt nhiễu với kết cấu thật ở mức điểm ảnh; bố cục thì vẫn còn nguyên nên không cần dự đoán. Ở tt lớn, SNR rất thấp: gần như chỉ còn nhiễu, các chi tiết đã mất, chỉ các thành phần biên độ lớn như bố cục, vùng sáng tối và màu tổng thể còn để lại dấu vết. Khi sinh mẫu đi ngược từ t=Tt = T về 0, mô hình vì vậy quyết định bố cục trước rồi mới thêm chi tiết; trình tự này là hệ quả của lịch nhiễu, không được lập trình riêng.

Bài 5
suy luậnTrung bìnhChương 10
#

Hai hàm mất mát cho bộ sinh của GAN: cực tiểu log⁡(1−D(G(z)))\log(1 - D(G(z))) và cực đại log⁡D(G(z))\log D(G(z)), với D=σ(s)D = \sigma(s). (a) Tính đạo hàm của mỗi hàm theo ss. (b) Lúc bắt đầu huấn luyện, σ(s)≈0\sigma(s) \approx 0 với mẫu giả. Gradient của mỗi hàm lớn cỡ nào? (c) Dùng kết quả đo ở Mục 10.2 để nêu hậu quả. (d) Hai hàm có cùng điểm cố định. Từ đó rút ra nhận định tổng quát nào về việc chọn hàm mất mát? Nêu một ví dụ khác trong các giáo trình của lộ trình cho thấy cùng hiện tượng.

Xem lời giải chi tiết

(a) Hai đạo hàm. Với D=σ(s)D = \sigma(s) và σ′(s)=σ(s)(1−σ(s))\sigma'(s) = \sigma(s)(1 - \sigma(s)):

∂∂slog⁡(1−σ(s))=−σ(s)(1−σ(s))1−σ(s)=−σ(s),∂∂slog⁡σ(s)=σ(s)(1−σ(s))σ(s)=1−σ(s).\begin{aligned} \frac{\partial}{\partial s}\log\big(1 - \sigma(s)\big) &= \frac{-\sigma(s)(1 - \sigma(s))}{1 - \sigma(s)} = -\sigma(s), \\ \frac{\partial}{\partial s}\log\sigma(s) &= \frac{\sigma(s)(1 - \sigma(s))}{\sigma(s)} = 1 - \sigma(s). \end{aligned}

(b) Lúc bắt đầu. Bộ phân biệt dễ dàng nhận ra mẫu giả nên σ(s)≈0\sigma(s) \approx 0. Dạng gốc cho gradient cỡ −σ(s)≈0-\sigma(s) \approx 0; dạng không bão hoà cho 1−σ(s)≈11 - \sigma(s) \approx 1.

(c) Hậu quả đo được.

Hàm mất mát của bộ sinh Số cụm được phủ (4 lần khởi tạo) Tỉ lệ điểm nằm trong cụm
Dạng gốc 0, 0, 0, 0 0,0%
Dạng không bão hoà 8, 8, 8, 8 15,3%

Dạng gốc không học được gì ở cả bốn lần. Cơ chế là một vòng luẩn quẩn: bộ sinh kém, bộ phân biệt tự tin, gradient của bộ sinh gần 0, bộ sinh không cải thiện. Vòng này khép lại ngay từ bước đầu, vì lúc đầu bộ sinh luôn kém. Dạng không bão hoà phá vòng này vì gradient lớn nhất đúng khi bộ sinh kém nhất.

(d) Nhận định tổng quát. Hai hàm mất mát có cùng điểm tối ưu vẫn có thể cho quá trình huấn luyện rất khác nhau, vì thuật toán không nhảy thẳng tới điểm tối ưu mà đi từng bước theo gradient; hình dạng của gradient dọc đường đi mới quyết định việc học.

Ví dụ khác: Chương 6 của Nền tảng so sánh hàm mất mát của perceptron, hinge và logistic. Cả ba đều là chặn trên lồi của mất mát 0–1, nhưng mất mát perceptron bằng 0 ngay khi một điểm vừa được phân loại đúng, nên thuật toán ngừng điều chỉnh điểm đó dù nó nằm sát biên. Trên dữ liệu không tách được, Mục 6.2 của Nền tảng đo được 17 977 lần phân loại sai sau 2 000 lượt quét mà không hội tụ.

Bài 6
tính tayNâng caoChương 14
#

Bài toán RLHF max⁡πEπ[r]−β KL(π ∥ πref)\max_\pi \mathbb{E}_\pi[r] - \beta\,\mathrm{KL}(\pi \,\|\, \pi_{\text{ref}}) trên NN câu trả lời rời rạc. (a) Lập hàm Lagrange với ràng buộc ∑yπ(y)=1\sum_y\pi(y) = 1, cho đạo hàm theo π(y)\pi(y) bằng 0 và suy ra nghiệm dạng đóng. (b) Khi β→0\beta \to 0 và β→∞\beta \to \infty, chính sách tối ưu là gì? Giải thích bằng lời. (c) Nếu πref(y0)=0\pi_{\text{ref}}(y_0) = 0 với một câu trả lời y0y_0, thì π∗(y0)\pi^*(y_0) bằng bao nhiêu dù r(y0)r(y_0) lớn tới đâu? Điều đó có ý nghĩa gì cho an toàn, và nó không bảo đảm được điều gì? (d) Dùng số liệu ở Mục 14.4 để giải thích vì sao nên xem β\beta là một vị trí trên đường đánh đổi thay vì một siêu tham số có giá trị đúng duy nhất.

Xem lời giải chi tiết

(a) Nghiệm dạng đóng. Với xx cố định, bài toán là

max⁡π∑yπ(y) r(y)−β∑yπ(y)log⁡π(y)πref(y)với∑yπ(y)=1.\max_\pi \sum_y\pi(y)\,r(y) - \beta\sum_y\pi(y)\log\frac{\pi(y)}{\pi_{\text{ref}}(y)} \quad\text{với}\quad \sum_y\pi(y) = 1.

Hàm Lagrange với nhân tử λ\lambda:

L=∑yπ(y) r(y)−β∑yπ(y)log⁡π(y)πref(y)+λ(∑yπ(y)−1).\mathcal{L} = \sum_y\pi(y)\,r(y) - \beta\sum_y\pi(y)\log\frac{\pi(y)}{\pi_{\text{ref}}(y)} + \lambda\Big(\sum_y\pi(y) - 1\Big).

Dùng ∂∂π[πlog⁡ππref]=log⁡ππref+1\frac{\partial}{\partial\pi}\big[\pi\log\frac{\pi}{\pi_{\text{ref}}}\big] = \log\frac{\pi}{\pi_{\text{ref}}} + 1, cho đạo hàm theo π(y)\pi(y) bằng 0:

r(y)−β(log⁡π(y)πref(y)+1)+λ=0⟹  π(y)=πref(y)exp⁡(r(y)β) eλ/β−1.\begin{gathered} r(y) - \beta\Big(\log\frac{\pi(y)}{\pi_{\text{ref}}(y)} + 1\Big) + \lambda = 0 \\ \Longrightarrow\; \pi(y) = \pi_{\text{ref}}(y)\exp\Big(\frac{r(y)}{\beta}\Big)\,e^{\lambda/\beta - 1}. \end{gathered}

Thừa số cuối là hằng số, xác định bởi ràng buộc tổng bằng 1, nên

π∗(y)=1Z πref(y)exp⁡(r(y)β),Z=∑yπref(y) er(y)/β.\pi^*(y) = \frac{1}{Z}\,\pi_{\text{ref}}(y)\exp\Big(\frac{r(y)}{\beta}\Big), \qquad Z = \sum_y\pi_{\text{ref}}(y)\,e^{r(y)/\beta}.

(b) Hai giới hạn. Khi β→0\beta \to 0, exp⁡(r/β)\exp(r/\beta) bị chi phối hoàn toàn bởi câu trả lời có phần thưởng lớn nhất, nên chính sách dồn toàn bộ xác suất vào câu trả lời đó, bỏ qua πref\pi_{\text{ref}} (miễn là πref\pi_{\text{ref}} của nó dương). Khi β→∞\beta \to \infty, exp⁡(r/β)→1\exp(r/\beta) \to 1 và π∗→πref\pi^* \to \pi_{\text{ref}}: mô hình giữ nguyên, không học gì từ phần thưởng. Mục 14.4 cho thấy hai xu hướng này: ở β=0,05\beta = 0{,}05, KL bằng 4,74 và phần thưởng kỳ vọng 2,44; ở β=5\beta = 5, KL chỉ 0,017 và phần thưởng kỳ vọng −0,35-0{,}35.

(c) Khi πref(y0)=0\pi_{\text{ref}}(y_0) = 0. π∗(y0)=0⋅exp⁡(r(y0)/β)/Z=0\pi^*(y_0) = 0 \cdot \exp(r(y_0)/\beta)/Z = 0, bất kể r(y0)r(y_0) lớn tới đâu. Về mặt an toàn, điều này có nghĩa là những gì mô hình tham chiếu coi là không thể thì vẫn không thể sau khi tối ưu, dù mô hình thưởng có sai lệch thế nào.

Nhưng bảo đảm này hầu như không áp dụng được trong thực tế: một mô hình ngôn ngữ dùng softmax gán xác suất dương, dù rất nhỏ, cho mọi chuỗi token, nên πref(y)>0\pi_{\text{ref}}(y) > 0 với mọi yy. Ràng buộc KL chỉ làm những đầu ra đó ít xảy ra hơn, không loại bỏ chúng. Bài 9(c) bàn tiếp hệ quả này.

(d) β\beta là một vị trí trên đường đánh đổi.

β\beta KL Phần thưởng kỳ vọng
0,05 4,741 2,438
0,20 4,658 2,424
1,00 0,417 0,303
5,00 0,017 −0,350-0{,}350

KL và phần thưởng tăng giảm cùng nhau: muốn phần thưởng cao hơn thì phải chấp nhận đi xa πref\pi_{\text{ref}} hơn. Không có giá trị β\beta nào làm cả hai cùng tốt, nên câu hỏi "β\beta bằng bao nhiêu là đúng" không có câu trả lời kỹ thuật chung. Câu hỏi thực tế là chấp nhận lệch khỏi mô hình tham chiếu bao nhiêu để đổi lấy bao nhiêu phần thưởng, và câu trả lời phụ thuộc mức tin cậy vào mô hình thưởng. Cách đọc giống đường ROC (Mục 8.3 của Nền tảng): không có điểm tốt nhất chung, chỉ có một đường đánh đổi.

Bài 7
suy luậnNâng caoChương 15
#

Suy ra hàm mất mát DPO. (a) Từ nghiệm dạng đóng ở Bài 6, viết rr theo π\pi và πref\pi_{\text{ref}}. (b) Thay vào hợp lý Bradley–Terry và chỉ rõ chỗ log⁡Z(x)\log Z(x) triệt tiêu. (c) Vì sao phép triệt tiêu đòi hỏi hai câu trả lời phải cho cùng một câu hỏi xx? (d) Nêu hai tình huống RLHF có thể tốt hơn DPO, dù hai phương pháp có cùng nghiệm tối ưu.

Xem lời giải chi tiết

(a) Đảo ngược nghiệm dạng đóng. Lấy logarit hai vế của π∗(y∣x)=πref(y∣x)exp⁡(r(x,y)/β)/Z(x)\pi^*(y \mid x) = \pi_{\text{ref}}(y \mid x)\exp(r(x, y)/\beta)/Z(x):

log⁡π∗(y∣x)=log⁡πref(y∣x)+r(x,y)β−log⁡Z(x)⟹  r(x,y)=βlog⁡π∗(y∣x)πref(y∣x)+βlog⁡Z(x).\begin{gathered} \log\pi^*(y \mid x) = \log\pi_{\text{ref}}(y \mid x) + \frac{r(x, y)}{\beta} - \log Z(x) \\ \Longrightarrow\; r(x, y) = \beta\log\frac{\pi^*(y \mid x)}{\pi_{\text{ref}}(y \mid x)} + \beta\log Z(x). \end{gathered}

Với πref\pi_{\text{ref}} và β\beta cho trước, mỗi chính sách ứng với một hàm thưởng (sai khác một hàm chỉ phụ thuộc xx), nên tham số hoá chính sách cũng là tham số hoá hàm thưởng.

(b) Thay vào Bradley–Terry. Mô hình Bradley–Terry dùng hiệu hai phần thưởng:

r(x,yw)−r(x,yl)=[βlog⁡π(yw∣x)πref(yw∣x)+βlog⁡Z(x)]−[βlog⁡π(yl∣x)πref(yl∣x)+βlog⁡Z(x)].\begin{aligned} r(x, y_w) - r(x, y_l) &= \Big[\beta\log\frac{\pi(y_w \mid x)}{\pi_{\text{ref}}(y_w \mid x)} + \beta\log Z(x)\Big] \\ &\quad - \Big[\beta\log\frac{\pi(y_l \mid x)}{\pi_{\text{ref}}(y_l \mid x)} + \beta\log Z(x)\Big]. \end{aligned}

Hai số hạng βlog⁡Z(x)\beta\log Z(x) ở cuối mỗi ngoặc bằng nhau và triệt tiêu. Kết quả là hàm mất mát DPO:

LDPO=− E[log⁡σ(βlog⁡πθ(yw∣x)πref(yw∣x)−βlog⁡πθ(yl∣x)πref(yl∣x))],\mathcal{L}_{\text{DPO}} = -\,\mathbb{E}\left[\log\sigma\left(\beta\log\frac{\pi_\theta(y_w \mid x)}{\pi_{\text{ref}}(y_w \mid x)} - \beta\log\frac{\pi_\theta(y_l \mid x)}{\pi_{\text{ref}}(y_l \mid x)}\right)\right],

trong đó mọi đại lượng đều tính được bằng một lượt xuôi qua πθ\pi_\theta và πref\pi_{\text{ref}} trên hai câu trả lời.

(c) Vì sao cần cùng một câu hỏi. Z(x)=∑yπref(y∣x)exp⁡(r(x,y)/β)Z(x) = \sum_y\pi_{\text{ref}}(y \mid x)\exp(r(x, y)/\beta) phụ thuộc xx nhưng không phụ thuộc yy. Với hai câu trả lời cho cùng câu hỏi xx, hai số hạng βlog⁡Z(x)\beta\log Z(x) bằng nhau. Nếu hai câu trả lời thuộc hai câu hỏi khác nhau x1≠x2x_1 \ne x_2, hiệu βlog⁡Z(x1)−βlog⁡Z(x2)\beta\log Z(x_1) - \beta\log Z(x_2) khác 0 và không tính được. Vì vậy dữ liệu của DPO phải là các cặp so sánh cho cùng một câu hỏi; KTO (Mục 15.5) được đề xuất để bỏ yêu cầu này.

(d) Hai tình huống RLHF có thể tốt hơn.

  1. Cần học trên các câu trả lời mà chính sách hiện tại sinh ra. RLHF lấy mẫu từ chính sách đang học rồi chấm bằng mô hình thưởng, nên luôn học trên đúng phân phối mô hình đang sinh ra. DPO học trên một tập so sánh cố định; khi chính sách đi xa khỏi phân phối đã sinh ra tập đó, mô hình được dạy về những câu trả lời nó không còn sinh ra nữa, và tín hiệu học yếu đi.
  2. Cần một mô hình thưởng dùng lại được. Mô hình thưởng có thể chấm dữ liệu mới mà không cần người, so sánh các phiên bản mô hình trên cùng một thang, phát hiện suy giảm chất lượng khi vận hành, và lọc dữ liệu huấn luyện. DPO không tạo ra thành phần này.
Bài 8
chẩn đoánTrung bìnhChương 9
#

Với mỗi tình huống, nêu vấn đề và hai việc nên làm: (a) Huấn luyện VAE, sai số tái dựng cao còn KL gần như bằng 0 ở mọi chiều ẩn. (b) Tinh chỉnh toàn phần một mô hình trên 80 mẫu có nhãn cho độ chính xác kiểm tra thấp hơn khi chỉ học lớp cuối trên đặc trưng đóng băng. (c) Đóng băng đặc trưng và tăng dữ liệu từ 500 lên 5 000 mẫu, độ chính xác chỉ tăng từ 0,62 lên 0,64. (d) Huấn luyện GAN 20 000 vòng, mất mát của bộ sinh tăng đều. Có nên dừng không?

Xem lời giải chi tiết

(a) VAE: tái dựng kém, KL gần 0 ở mọi chiều. Đây là sụp hậu nghiệm: hậu nghiệm xấp xỉ trùng tiên nghiệm ở mọi chiều, zz không mang thông tin về xx, và bộ giải mã chỉ dự đoán giá trị trung bình. Mục 9.3 đo được hiện tượng này ở β=16\beta = 16: mọi chiều có KL bằng 0 và sai số tái dựng tăng lên 15,28. Hai việc nên làm:

  1. Giảm β\beta, ví dụ về 1 hoặc nhỏ hơn; Mục 9.3 cho thấy số chiều mang thông tin phụ thuộc trực tiếp vào β\beta.
  2. Tăng dần β\beta từ 0 (KL annealing) trong những bước đầu, để bộ giải mã học cách dùng zz trước khi số hạng KL kéo hậu nghiệm về tiên nghiệm (Bowman và cộng sự, 2016). Nếu bộ giải mã quá mạnh, như một mô hình tự hồi quy, có thể cần giảm dung lượng của nó.

(b) Tinh chỉnh trên 80 mẫu kém hơn đóng băng. Với 80 mẫu, tinh chỉnh toàn phần có quá nhiều tham số so với dữ liệu, nên dễ overfitting; Mục 6.3 cho thấy dưới 150 mẫu, tinh chỉnh toàn phần không vượt được các cách khác. Hai việc nên làm:

  1. Dùng LoRA hạng nhỏ thay cho tinh chỉnh toàn phần: điều chỉnh sâu hơn một lớp tuyến tính mà chỉ thêm rất ít tham số.
  2. Giảm tốc độ học, dừng sớm theo tập xác thực, và mở đóng băng dần từ các lớp trên.

Trước đó nên kiểm tra xem chênh lệch có đáng tin không: với 80 mẫu, tập xác thực rất nhỏ, và chênh lệch quan sát được có thể chỉ là dao động giữa các lần chạy, như hai hàng đầu của bảng ở Mục 6.3.

(c) Đóng băng, dữ liệu tăng mười lần, độ chính xác chỉ tăng 0,02. Đây là giới hạn của đặc trưng đóng băng, giống kết quả đo ở Mục 6.3 (0,622; 0,638; 0,645): khi đặc trưng cố định, mô hình chỉ còn là hồi quy softmax trên các đặc trưng đó. Theo Mục 2.4 của Học sâu, đây là tình trạng độ chệch cao: sai số huấn luyện và sai số xác thực gần nhau và cùng đã nằm ngang. Hai việc nên làm:

  1. Cho phép cập nhật các lớp phía dưới, ít nhất vài lớp trên cùng; ở Mục 6.3, với 8 000 mẫu, tinh chỉnh toàn phần đạt 0,818 so với 0,645.
  2. Dùng LoRA nếu không đủ bộ nhớ để tinh chỉnh toàn phần.

Không nên thu thập thêm dữ liệu cho cấu hình hiện tại, vì đường cong đã cho thấy dữ liệu không giúp được.

(d) GAN: mất mát của bộ sinh tăng đều sau 20 000 vòng. Không đủ thông tin để kết luận nên dừng. Mất mát của bộ sinh tăng có thể vì bộ sinh kém đi, cũng có thể vì bộ phân biệt vừa tốt lên (Mục 10.4). Hai việc nên làm:

  1. Xem trực tiếp mẫu sinh ra, định kỳ theo số vòng; đây là cách đánh giá thô nhưng đáng tin.
  2. Dùng một chỉ số bên ngoài như FID, hoặc với dữ liệu mô phỏng thì đếm số chế độ được phủ và tỉ lệ điểm nằm trong các cụm như Mục 10.2.

Một dấu hiệu thật sự đáng lo là mất mát của bộ phân biệt về gần 0 và đứng yên: bộ phân biệt thắng hoàn toàn, gradient của bộ sinh triệt tiêu như cơ chế ở Mục 10.2, và quá trình huấn luyện đã hỏng.

Bài 9
thiết kếNâng caoChương 14
#

Một công ty bảo hiểm muốn xây trợ lý hỗ trợ khách hàng từ một mô hình ngôn ngữ mở trọng số 7 tỉ tham số. (a) Công ty có 3 000 đoạn hội thoại mẫu do nhân viên giỏi viết. Nên tinh chỉnh toàn phần, dùng LoRA, hay chỉ viết prompt? Trả lời dựa trên Mục 6.3 và Mục 7.3. (b) Sau ba tháng, công ty thu được 40 000 cặp so sánh do khách hàng đánh giá ("câu trả lời nào hữu ích hơn"). Thiết kế bước tiếp theo, chọn DPO hoặc RLHF và giải thích. (c) Bộ phận pháp chế yêu cầu trợ lý không bao giờ hứa chi trả bảo hiểm. Vì sao ràng buộc KL ở Mục 14.4 không đủ bảo đảm điều đó, và cần thêm gì? (d) Thiết kế cách giám sát trợ lý khi vận hành, dựa trên Chương 10 của MLOps.

Xem lời giải chi tiết

(a) 3 000 đoạn hội thoại mẫu. Trước hết nên thử chỉ viết prompt với vài ví dụ trong ngữ cảnh và đo trên một bộ đánh giá; nếu đã đủ tốt thì không cần huấn luyện. Nếu chưa đủ, chọn LoRA hạng 8 hoặc 16:

  • Với 3 000 mẫu, dữ liệu nằm trong vùng mà ở Mục 6.3 tinh chỉnh vượt rõ đóng băng, nên chỉ học lớp cuối là bỏ phí dữ liệu.
  • Tinh chỉnh toàn phần mô hình 7B với Adam ở FP32 cần khoảng 96 GiB (Mục 7.1), vượt một GPU 80 GB; LoRA r=8r = 8 chỉ cần 32 MiB cho trạng thái bộ tối ưu.
  • Nhiệm vụ, học văn phong và quy trình trả lời của bộ phận hỗ trợ, là loại điều chỉnh mà giả định hạng thấp của LoRA phù hợp: nhấn mạnh lại những gì mô hình đã biết thay vì học kiến thức mới.

(b) 40 000 cặp so sánh. Chọn DPO:

  1. DPO cần 2 mô hình trong bộ nhớ thay vì 4, hàm mất mát là cross-entropy nhị phân, ít siêu tham số và ổn định hơn PPO.
  2. DPO có cùng nghiệm tối ưu với RLHF (Mục 15.3), nên về lý thuyết không mất gì.
  3. 40 000 cặp là một tập so sánh cố định, đúng dạng dữ liệu DPO được thiết kế cho.

Cách làm: lấy mô hình sau bước (a) làm πref\pi_{\text{ref}}, chạy DPO với β\beta trong khoảng 0,1 tới 0,5, theo dõi KL giữa πθ\pi_\theta và πref\pi_{\text{ref}} và chất lượng trên một bộ đánh giá giữ riêng. Nên cân nhắc RLHF về sau nếu cần học liên tục trên các câu trả lời mô hình đang sinh ra, hoặc cần một mô hình thưởng cho việc đánh giá và giám sát.

(c) Ràng buộc KL không bảo đảm "không bao giờ hứa chi trả".

  1. KL là ràng buộc trung bình, không phải ràng buộc cho từng đầu ra. KL nhỏ nghĩa là hai phân phối gần nhau nói chung, vẫn cho phép một số đầu ra cụ thể tăng xác suất đáng kể.
  2. Mô hình ngôn ngữ không gán xác suất bằng 0 cho chuỗi nào. Bảo đảm ở Bài 6(c) chỉ áp dụng khi πref(y)=0\pi_{\text{ref}}(y) = 0 đúng bằng 0, điều không xảy ra với softmax.
  3. Mô hình thưởng không biết ràng buộc pháp lý nếu dữ liệu so sánh không thể hiện nó. Nếu người đánh giá chỉ chọn câu trả lời "hữu ích hơn", một câu hứa chi trả có thể được chấm cao hơn vì làm khách hàng hài lòng.

Cần thêm một lớp kiểm tra nằm ngoài mô hình: một bộ lọc chạy trên đầu ra trước khi gửi cho khách hàng, gồm quy tắc và một bộ phân loại riêng (Mục 11.5 của Ứng dụng LLM). Bộ lọc không phải một phần của mô hình được tối ưu, nên không bị quá trình tối ưu lách qua. Huấn luyện làm hành vi này hiếm đi; chỉ bộ lọc đầu ra mới chặn được nó, và nên nói rõ điều đó với bộ phận pháp chế.

(d) Giám sát khi vận hành. Bốn lớp, xếp theo độ trễ phát hiện từ nhanh tới chậm:

Lớp Đo gì Lý do
Bộ lọc đầu ra tỉ lệ đầu ra bị chặn tăng đột ngột cho thấy mô hình hoặc loại câu hỏi đã thay đổi
Phân phối đầu vào dịch chuyển của câu hỏi người dùng (Chương 9 của MLOps) câu hỏi thay đổi thì chất lượng có thể thay đổi
Chất lượng theo mẫu chấm một mẫu nhỏ bằng người hoặc bằng mô hình giám khảo tín hiệu trực tiếp nhất về chất lượng
Phản hồi người dùng tỉ lệ chuyển sang nhân viên thật, đánh giá sau hội thoại đến muộn nhất nhưng đo đúng điều quan trọng

Thêm hai điểm riêng cho mô hình ngôn ngữ (Chương 13 của MLOps): kiểm tra định kỳ trên một bộ câu hỏi cố định để phát hiện thay đổi hành vi khi đổi phiên bản mô hình, và cẩn thận khi dùng dữ liệu do chính mô hình sinh ra để huấn luyện vòng sau, vì phân phối có thể hẹp dần, như hiện tượng vòng phản hồi đo được ở Mục 12.3 của MLOps.

Bài 10
thí nghiệmNâng caoChương 10
#

Trong phần (G) của code/bieudien/experiments.py, GAN với hàm mất mát không bão hoà phủ đủ 8 cụm ở mọi lần khởi tạo, tức không tái hiện được sụp chế độ. (a) Nêu ba thay đổi có thể làm sụp chế độ xuất hiện, và với mỗi thay đổi, nêu cơ chế dự kiến. (b) Cài một trong ba thay đổi, chạy lại và báo cáo kết quả, kể cả khi kết quả khác với dự đoán. (c) Đề xuất một chỉ số đo mức phủ tốt hơn việc đếm số cụm có điểm rơi vào. Gợi ý: xét phân phối số điểm rơi vào mỗi cụm. (d) Vì sao phủ đủ các chế độ chưa đủ để kết luận mô hình học đúng phân phối? Dùng con số 15,3% ở Mục 10.3.

Xem lời giải chi tiết

(a) Ba thay đổi có thể làm sụp chế độ xuất hiện.

  1. Tăng số chiều của dữ liệu, ví dụ đặt 8 cụm trong không gian 50 chiều. Cơ chế dự kiến: ở số chiều cao, các cụm cách xa nhau hơn so với độ rộng của chúng, và bộ sinh, một ánh xạ liên tục từ zz, khó phủ nhiều vùng rời rạc cùng lúc.
  2. Làm bộ phân biệt mạnh hơn nhiều so với bộ sinh, ví dụ thêm lớp và cập nhật bộ phân biệt 5 lần cho mỗi lần cập nhật bộ sinh. Cơ chế dự kiến: bộ phân biệt tìm ra ranh giới rất sắc, và bộ sinh dồn vào một vùng hẹp mà nó tạm thời đánh lừa được.
  3. Giảm số chiều của zz xuống 1. Cơ chế dự kiến: ảnh của bộ sinh khi đó là một đường cong liên tục trong mặt phẳng; để đi qua 8 cụm rời rạc, đường cong phải đi qua cả vùng trống giữa chúng, nên bộ sinh có xu hướng chỉ phủ vài cụm gần nhau. Đây là một ràng buộc hình học, không phụ thuộc vào quá trình tối ưu, nên là thay đổi có khả năng tạo ra hiện tượng cao nhất.

(b) Chạy lại và báo cáo. Phần này để người học tự làm. Yêu cầu quan trọng là ghi lại kết quả đúng như nó xảy ra, kể cả khi khác với dự đoán. Thí nghiệm gốc ở Mục 10.3 chính là một ví dụ: dự định ban đầu là minh hoạ sụp chế độ, nhưng sau nhiều cấu hình vẫn không tái hiện được, và nội dung được viết theo số liệu thay vì theo dự định. Một thí nghiệm bác bỏ giả thuyết ban đầu có giá trị hơn một thí nghiệm được điều chỉnh cho tới khi ra kết quả mong muốn.

(c) Chỉ số phủ tốt hơn. Cách đếm hiện tại, số cụm có ít nhất một điểm rơi vào, là chỉ số nhị phân và rất dễ dãi: một cụm nhận 1 điểm được tính ngang một cụm nhận 1 000 điểm. Chỉ số tốt hơn: gọi pip_i là tỉ lệ điểm sinh ra rơi vào cụm ii (trong số các điểm rơi vào một cụm nào đó), so với tỉ lệ thật qi=1/8q_i = 1/8, rồi đo

KL(p ∥ q)hoặcsoˆˊ cheˆˊ độ hiệu dụng=exp⁡(H(p))=exp⁡(−∑ipilog⁡pi).\begin{gathered} \mathrm{KL}(p \,\|\, q) \quad\text{hoặc} \\ \text{số chế độ hiệu dụng} = \exp\big(H(p)\big) = \exp\Big(-\sum_i p_i\log p_i\Big). \end{gathered}

Số chế độ hiệu dụng bằng 8 khi các cụm nhận số điểm bằng nhau và bằng 1 khi mọi điểm dồn vào một cụm, cho một giá trị liên tục trong [1,8][1, 8]. Đây là cùng đại lượng eHe^H dùng để đo số lựa chọn hiệu dụng của các chiến lược giải mã ở Mục 11.3 của Học sâu.

(d) Phủ đủ chế độ chưa đủ. Chỉ 15,3% số điểm sinh ra nằm trong phạm vi một cụm: bộ sinh đặt khối lượng xác suất vào đúng vùng của 8 cụm, nhưng phần lớn điểm nằm rải rác giữa các cụm, nơi dữ liệu thật gần như không có. Phủ đủ các chế độ là điều kiện cần, không phải điều kiện đủ, để học đúng phân phối; cần thêm các chỉ số so sánh mật độ, như tỉ lệ điểm trong cụm hay phân kỳ giữa phân phối sinh ra và phân phối thật.

Trắc nghiệm theo chương#

49 câu bám sát nội dung và số liệu của từng chương. Đáp án được xáo lại mỗi lần tải trang.

Chương 2 — Word2Vec

6 câu

  1. 1Skip-gram với lấy mẫu âm thực chất phân rã ma trận nào?

  2. 2Vì sao dùng PMI thay cho số lần đồng hiện thô?

  3. 3Lấy mẫu âm giải quyết vấn đề gì?

  4. 4Trong thí nghiệm ở Mục 2.6, embedding skip-gram hạng 8 giải đúng bao nhiêu phép loại suy, so với SVD trên PPMI cùng số chiều?

  5. 5Vì sao độ chính xác loại suy của SVD giảm khi giữ 12 hoặc 16 chiều, rồi lại đạt 100% ở 20 chiều?

  6. 6Số mũ 3/4 trong phân phối lấy mẫu âm có cơ sở gì?

Đã trả lời 0/6

Chương 3 — Hình học của không gian embedding

3 câu

  1. 1Vì sao hai embedding không liên quan vẫn có thể có cosine rất cao?

  2. 2Cách rẻ nhất để giảm tác động của tính bất đẳng hướng là gì?

  3. 3Chiều thứ 37 của một embedding mang nghĩa gì?

Đã trả lời 0/3

Chương 4 — Embedding theo ngữ cảnh và tìm kiếm vector

3 câu

  1. 1Vì sao trung bình các trạng thái ẩn của BERT chưa phải embedding câu tốt?

  2. 2Trong học tương phản với hàm mất mát InfoNCE, mẫu âm thường lấy từ đâu?

  3. 3Một kho 10 triệu vector 768 chiều lưu ở FP32 chiếm bao nhiêu bộ nhớ?

Đã trả lời 0/3

Chương 5 — Tiền huấn luyện

2 câu

  1. 1Vì sao dự đoán token tiếp theo dạy được nhiều kỹ năng như vậy?

  2. 2Trường hợp nào tiền huấn luyện giúp được ít nhất?

Đã trả lời 0/2

Chương 6 — Đóng băng và tinh chỉnh

3 câu

  1. 1Trong thí nghiệm ở Mục 6.3, từ khoảng bao nhiêu mẫu có nhãn thì tinh chỉnh toàn phần vượt rõ các cách khác?

  2. 2Điều gì xảy ra với cách đóng băng khi dữ liệu tăng từ 500 lên 8 000 mẫu?

  3. 3Vì sao thí nghiệm ở Mục 6.2 tự cài mạng bằng NumPy thay cho MLPClassifier của scikit-learn?

Đã trả lời 0/3

Chương 7 — LoRA và tinh chỉnh tiết kiệm tham số

4 câu

  1. 1LoRA tiết kiệm điều gì?

  2. 2LoRA dựa trên giả định nào?

  3. 3Vì sao LoRA khởi tạo B=0B = 0?

  4. 4Với một ma trận d×dd \times d, tỉ lệ số tham số của LoRA hạng rr so với tinh chỉnh toàn phần là bao nhiêu?

Đã trả lời 0/4

Chương 8 — Mô hình sinh

2 câu

  1. 1Vì sao không áp dụng trực tiếp ước lượng hợp lý cực đại cho một mô hình mật độ tổng quát trên ảnh?

  2. 2Vì sao mô hình khuếch tán thay thế GAN trong phần lớn ứng dụng sinh ảnh?

Đã trả lời 0/2

Chương 9 — Bộ tự mã hoá biến phân

4 câu

  1. 1Trong thí nghiệm ở Mục 9.3, hệ số β\beta của VAE quyết định điều gì?

  2. 2Sụp hậu nghiệm là gì?

  3. 3Vì sao mẫu của VAE thường mờ?

  4. 4Mẹo tái tham số hoá dùng để làm gì?

Đã trả lời 0/4

Chương 10 — Mạng đối sinh

4 câu

  1. 1Đạo hàm của log⁡(1−σ(s))\log(1 - \sigma(s)) theo ss là gì, và hệ quả với dạng gốc của hàm mất mát cho bộ sinh?

  2. 2Dạng không bão hoà của hàm mất mát cho bộ sinh khác gì?

  3. 3Thí nghiệm GAN ở Mục 10.3 cho thấy gì về sụp chế độ?

  4. 4Vì sao đường cong mất mát của GAN khó dùng để theo dõi chất lượng?

Đã trả lời 0/4

Chương 11 — Mô hình khuếch tán

4 câu

  1. 1Dạng đóng của quá trình thuận cho biết gì, và vì sao nó quan trọng?

  2. 2Ở các bước tt lớn (SNR rất thấp), việc khử nhiễu liên quan tới điều gì?

  3. 3Huấn luyện mô hình khuếch tán thực chất là bài toán gì?

  4. 4Vì sao mô hình khuếch tán thường dự đoán nhiễu ε\varepsilon thay vì dự đoán x0x_0?

Đã trả lời 0/4

Chương 12 — Nhập môn học tăng cường

3 câu

  1. 1Khác biệt có hệ quả lớn nhất giữa học tăng cường và học có giám sát là gì?

  2. 2Thí nghiệm ở Mục 12.4 cho thấy điều gì mà câu "cần ε>0\varepsilon > 0 để khám phá" bỏ sót?

  3. 3Khởi tạo bi quan Q0=−20Q_0 = -20 gây ra điều gì trong thí nghiệm?

Đã trả lời 0/3

Chương 13 — Gradient chính sách

3 câu

  1. 1Vì sao trừ một đường nền không làm lệch ước lượng gradient chính sách?

  2. 2Giảm độ lệch chuẩn của ước lượng gradient 2,3 lần tương đương cần ít mẫu hơn bao nhiêu lần?

  3. 3Vì sao phần thưởng luôn dương làm ước lượng REINFORCE nhiễu?

Đã trả lời 0/3

Chương 14 — Học tăng cường từ phản hồi của con người

4 câu

  1. 1Nghiệm của bài toán max⁡πEπ[r]−β KL(π ∥ πref)\max_\pi \mathbb{E}_\pi[r] - \beta\,\mathrm{KL}(\pi \,\|\, \pi_{\text{ref}}) là gì?

  2. 2Nếu πref(y0)=0\pi_{\text{ref}}(y_0) = 0 thì π∗(y0)\pi^*(y_0) bằng bao nhiêu?

  3. 3Vì sao học từ so sánh có thể vượt chất lượng của học bắt chước?

  4. 4Nên hiểu hệ số β\beta trong RLHF thế nào?

Đã trả lời 0/4

Chương 15 — Tối ưu trực tiếp theo sở thích (DPO)

4 câu

  1. 1DPO dựa trên quan sát nào?

  2. 2Vì sao log⁡Z(x)\log Z(x) triệt tiêu trong hàm mất mát DPO?

  3. 3DPO có phải một phép xấp xỉ của RLHF không?

  4. 4RLHF với PPO có lợi thế nào so với DPO?

Đã trả lời 0/4